Powered By Blogger

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Đâu mới là mô hình trường của GS Hồ Ngọc Đại?


Nội dung, phương pháp và cách tổ chức GD từ lớp 1- sáu tuổi được đổi mới. Nội dung chương trình GD được thiết kế ở ba lĩnh vực: Khoa học, Nghệ thuật, Lối sống. Trẻ lớp 1 được tiếp xúc ngay với những kiến thức hiện đại phù hợp tâm lý lứa tuổi. Nhà trường xây dựng chương trình tuân theo ba nguyên tắc: Phát triển, Chuẩn mực, Tối ưu.
LTS: Sự việc các bậc cha mẹ học sinh chen chúc và đạp đổ cánh cổng Trường Thực nghiệm (Liễu Giai- Hà Nội) mới xảy ra gần đây, để có được lá đơn xin học cho con, đã gây nên làn sóng tranh luận, trao đổi đa chiều xung quanh vấn đề GD nói chung, Trường Thực nghiệm nói riêng.
Vậy đâu mới đúng là mô hình Trường Thực nghiệm mà GS Hồ Ngọc Đại là cha đẻ? Mới đây, Tuần Việt Nam chúng tôi nhận được bài viết của tác giả Ngô Thị Tuyên (Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Công nghệ GD, thuộc Viện Khoa học GDVN), cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn đúng đắn, xác thực về mô hình Trường Thực nghiệm Giảng Võ trước đây. Tuần Việt Nam xin đăng tải bài viết.
Với triết lý công nghệ hóa GD sao cho có thể kiểm soát được kết quả GD một cách chắc chắn, không may rủi, ở Việt Nam, GS Hồ Ngọc Đại với mô hình Trường Thực nghiệm và chương trình CNGD đã tạo ra những thành quả đáng kể.
CNGD: Tổ chức và kiểm soát được quá trình GD
Từ chỗ thử nghiệm nội dung, phương pháp và cách tổ chức cuộc sống thực cho học sinh theo phương thức mới tại Hà Nội, GS.Hồ Ngọc Đại đã triển khai nhân rộng mô hình này ra phạm vi 43 tỉnh, thành (từ 1978-2000).
Nhiều thành tựu nghiên cứu của GS. Hồ Ngọc Đại và các học trò của ông đã được ứng dụng trong GD hiện hành.  Triết lý GD "Mỗi ngày đến trường là một ngày vui", "Đi học là hạnh phúc" của ông đã được chuyển thành khẩu hiệu treo ở nhiều trường trên cả nước.
Những quan điểm GD của ông đã đi vào cuộc sống như "Trong nhà trường, trẻ em là nhân vật trung tâm, thầy giáo là nhân vật quyết định", "Nhà trường là nơi trẻ em đang sống cuộc sống thực của chính mình", "Thầy thiết kế - trò thi công"...

GS Hồ Ngọc Đại
Trường Thực nghiệm được thành lập năm 1978 tại Hà Nội. Trường mang tên "Thực nghiệm" bởi nó là cơ sở nghiên cứu GD bằng phương thức thực nghiệm, là bộ phận cơ hữu của Phòng Thực nghiệm GD phổ thông, sau đổi là Trung tâm CNGD.
Trường Thực nghiệm là mô hình nghiên cứu lần đầu xuất hiện trong GD Việt Nam và là cách làm an toàn, tin cậy nhất trong GD. Mọi vấn đề muốn đưa vào nhà trường cần có một lý thuyết soi đường trên cơ sở triển khai ở thực tiễn, qua nghiên cứu, thử nghiệm, điều chỉnh, hoàn thiện, sau đó mới đại trà dần.
Tại đây, nội dung, phương pháp và cách tổ chức GD từ lớp 1- sáu tuổi được đổi mới. Nội dung chương trình GD được thiết kế ở ba lĩnh vực: Khoa học, Nghệ thuật, Lối sống. Trẻ lớp 1 được tiếp xúc ngay với những khiến thức hiện đại phù hợp tâm lý lứa tuổi. Nhà trường xây dựng chương trình tuân theo ba nguyên tắc: Phát triển, Chuẩn mực, Tối ưu.
Phương pháp GD được thiết kế dựa vào những phát hiện vĩ đại nhất về Tâm lý học của thế kỷ XX và được phát triển thành học thuyết riêng: CNGD. Khi có công nghệ, tức là có thể kiểm soát được quy trình làm ra sản phẩm.
Nền sản xuất đại công nghiệp đã thao tác hóa quá trình sản xuất, chuyên môn hóa lực lượng sản xuất, kiểm soát từng công đoạn sản xuất và do vậy có thể kiểm soát được sản phẩm cuối cùng.
Vậy CNGD là gì? CNGD không phải là CN thông tin trong GD, và cũng không phải chỉ là phương pháp GD. CN thông tin được sử dụng như các phương tiện trong GD và CNGD tận dụng tối đa những phương tiện này.
CNGD là quá trình tổ chức và kiểm soát quá trình GD sao cho ra được sản phẩm tất yếu, theo đúng ý đồ thiết kế của nhà GD. CNGD là thiết kế được những việc làm GD để học sinh tự mình làm ra sản phẩm học tập cho chính mình.
Nhà trường Thực nghiệm đã thao tác hóa việc học sao cho dễ làm, dễ học. Học thuyết này không những được lưu lại trên hàng chục cuốn sách của GS. Hồ Ngọc Đại, mà còn được triển khai trên thực tiễn, được nhân rộng ở 43 tỉnh thành cả nước. Ông được địa phương chấp nhận và yêu mến thực lòng.
Có thể kể ra rất nhiều những cái mới, mang tính cải cách của Trường Thực nghiệm đã đi vào cuộc sống. Trường Thực nghiệm là nơi đầu tiên (từ 1978) cho học sinh tiểu học học cả ngày, GD các em không chỉ chữ nghĩa mà còn cách sống, lối sống trong học tập, vui chơi, ăn, ngủ, tự học ở trường.
Trường có quan điểm học sinh tiểu học, nhất là lớp 1, về nhà không phải làm bài tập. Về nhà để gần gũi bố mẹ, ông bà, để học cách thương yêu và làm việc nhà. Nhà trường yêu cầu xếp thời khóa biểu mỗi ngày phải cho các em một tiết Tự học.
Tiết này vẫn có giáo viên, nhưng không phải để giảng bài, mà để hướng dẫn các em cách tự học. Tiết Tự học các em làm hết bài tập "về nhà". Khi về nhà vào buổi chiều, trẻ không cần mang theo cặp sách. Những lớp lớn (lớp 4, lớp 5) chỉ còn một phần bài tập đem về nhà thôi.
Điều này vừa giúp trẻ hình thành phương pháp tự học, vừa tạo cho trẻ được gần cha mẹ hơn, vừa không gây áp lực cho gia đình, vừa không "kéo dài" giờ học trên lớp bằng cách học ở nhà, không làm nặng nề việc học, và trẻ được trải nghiệm thêm kỹ năng làm việc nhà.
Dạy trẻ phải suy nghĩ bằng cái đầu...của mình
Nhà trường không dạy môn Đạo đức. Đạo đức là môn học mang nhiều tính giáo lý, và chưa đi tới được hành động. Thay vào đó trường đưa ra môn GD Lối sống. GD Lối sống là một môn học, nhưng lại được thực hiện ở tất cả các môn học và hoạt động GD khác trong nhà trường.
Nó là nhận thức của trẻ được thể hiện ra ngoài bằng hành vi, cử chỉ, lời nói, nếp sống, sinh hoạt hằng ngày. Trong GD Lối sống vừa có giáo lý, vừa có kỹ năng sống.
Nhà trường chủ chương tách Văn ra khỏi môn Tiếng Việt từ tiểu học, bởi hai môn học đó có hai đối tượng khác nhau. Học Tiếng Việt là học môn khoa học, còn học Văn là học môn nghệ thuật.
Học sinh Trường Thực nghiệm viết văn có rung cảm thực sự trước tác phẩm, chứ không phải học thuộc lòng nhắc lại rung cảm của người khác một cách vô cảm.
Cũng từ năm 1978, đón trước được khả năng hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế, trường đã thực nghiệm việc dạy tiếng nước ngoài cho học sinh từ cấp tiểu học (thành phố lớn từ lớp 2, nơi khó khăn hơn từ lớp 3).
Lớp trưởng trở thành công việc không độc quyền của riêng ai, không được coi như "chức tước" để phân biệt đẳng cấp trong lớp cũng như để nhận được quyền ưu ái hơn từ giáo viên.
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh, trường chủ chương không dùng điểm, mà đánh giá việc học, sự tiến bộ của em chủ yếu ở hai ngưỡng cơ bản: Làm được và chưa làm được. Nhất là, tuyệt đối không dùng điểm như phương tiện để trừng phạt hay để đánh giá mối quan hệ của cha mẹ học sinh với giáo viên.
Học tiếng nước ngoài không những cung cấp thêm cho trẻ một công cụ để giao tiếp trên phạm vi rộng hơn, mà qua việc học, trẻ còn phát triển tư duy ngôn ngữ và thấy được cả cái hay, cái đẹp của tiếng Việt.
Trên thực tế, vì học tiếng nước ngoài không có môi trường tiếng để luyện tập thực hành thường xuyên, Trường Thực nghiệm đã cho trẻ học mỗi ngày một tiết (40 phút). Cách học này như mưa dầm thấm lâu, chưa kịp quên thì đã được nhắc lại, học thêm.

Để GD năng lực tự tin, tinh thần trách nhiệm, quan hệ dân chủ, bình đẳng, khả năng giao tiếp trước đám đông cũng như năng lực lãnh đạo của học sinh, nhà trường yêu cầu mỗi tuần mỗi tổ cử một bạn làm lớp trưởng.
Lần lượt, em nào cũng có thể (và "phải") làm lớp trưởng. Có những em lúc đầu rất nhút nhát, nhưng sau khi làm lớp trưởng, mạnh dạn hẳn lên. Có những em rất hay vi phạm quy định, nội quy của lớp, sau khi làm lớp trưởng, tinh thần trách nhiệm tăng hẳn lên.
Cũng với cách này, lớp trưởng trở thành công việc không độc quyền của riêng ai, không được coi như "chức tước" để phân biệt đẳng cấp trong lớp cũng như để nhận được quyền ưu ái hơn từ giáo viên.
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh, trường chủ chương không dùng điểm, mà đánh giá việc học, sự tiến bộ của em chủ yếu ở hai ngưỡng cơ bản: Làm được và chưa làm được. Nhất là, tuyệt đối không dùng điểm như phương tiện để trừng phạt hay để đánh giá mối quan hệ của cha mẹ học sinh với giáo viên.
Nếu học sinh không làm được thì đó là lỗi của người lớn chứ không phải của các em. Nhà trường cũng yêu cầu không đem cái chưa đúng của học sinh ra để trừng phạt hay để phân tích trước cả lớp. Em nào đúng thì khen, em nào chưa đúng thì phải giúp để em làm đúng được mới thôi.
Theo GS. Hồ Ngọc Đại, trong lớp được phép "ồn" nếu là ồn trong học tập, không nhất thiết phải im lặng mới là ngoan. Làm xong bài trước, ngọ ngoạy... một tí được chấp nhận, miễn là không làm ảnh hưởng đến bạn khác.
Cái quan trọng nhất với ông là "Phải dạy trẻ biết suy nghĩ, không phải chỉ biết nghe lời","Phải làm sao cho trẻ suy nghĩ bằng cái đầu của mình, không phải của người khác. Và một dân tộc có đầu óc thì không ai làm được gì hết".
Quan hệ thầy - trò trong nhà trường không phải quan hệ bề trên - kẻ dưới, mà là thực hiện một sự phân công - hợp tác.
Trong nhà trường phải xưng hô cô - em, bạn - tôi. Không cho phép giáo viên gọi trẻ là con, bởi (dù chỉ là xưng hô) như thế cũng ảnh hưởng tới tính dân chủ của nhà trường cũng như khả năng chủ động của học sinh trong trường.
Mỗi trẻ em ở Trường Thực nghiệm đều được tôn trọng như nhau và được tạo cơ hội phát triển hết khả năng của mình.
Trường yêu cầu các em học hết sức, chứ không quá sức, phải thiết kế sao cho "Giáo viên không giảng giải, học sinh không cần cố gắng", với nghĩa thầy chỉ là người làm mẫu, hướng dẫn và điều chỉnh, trò cần học hết sức mình nhưng không phải cố quá sức, không bị căng thẳng, không bị áp lực, vừa đủ để thấy việc học thích thú, hấp dẫn.
Trường cho phép học sinh được phép viết bằng tay trái, hoặc bằng cả hai tay, không cứng nhắc bắt viết bằng tay phải và cấm viết bằng tay trái khi cấu tạo bẩm sinh của em thuận tay trái.
Nhiều học sinh Trường Thực nghiệm khi chuyển trường khác hay đã ra trường nhiều năm vẫn dành bao tình cảm yêu mến, kính trọng với ngôi trường này. Dù học nhiều trường khác nữa nhưng các em vẫn gọi Trường Thực nghiệm là "trường mình" một cách tự nhiên, coi trường như máu thịt của em.
Còn nhiều ý tưởng mà GS. Hồ Ngọc Đại mong muốn đưa vào GD nhưng chưa có cơ hội thực hiện. Ông chủ trương xây dựng mô hình trường tiểu học hiện đại, thuần Việt; trường trung học bắt đầu có yếu tố quốc tế. Và trường đại học có thể hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

GS. TSKH. Hồ Ngọc Đại dự giờ Tiếng Việt lớp 1 tại Lào Cai
Ông mong muốn đưa môn Đất nước học vào nhà trường nhằm GD nhận thức của trẻ về lịch sử, địa lý, môi trường quê hương đất nước từ nơi em ở như GD truyền thống tốt đẹp của gia đình, nhà trường, GD tình yêu ông bà cha mẹ, bạn bè, làng xóm, khu phố nơi em sinh ra và lớn lên.... Rồi từ đó mở rộng dần tầm nhìn của em ra thế giới, tình yêu của em với dân tộc, với đất nước.
Trong sự phát triển của xã hội hiện đại, nhu cầu phải gửi con qua đêm của cha mẹ là điều cần thiết, GS. Hồ Ngọc Đại mong muốn xây dựng những nhà trường bán trú, nhưng có nhận học sinh nội trú khi cần. Bởi khi bố mẹ thời hiện đại bận đi công tác, cô giáo chăm sóc em ở trường cả buổi tối là cách tốt nhất, yên tâm nhất.
Tiếng Việt là công cụ để học tất cả các môn học và hoạt động GD khác. Nếu không học được Tiếng Việt, em khó có thể học tốt những môn học khác. Tiếng Việt CNGD thành công không những cho học sinh người Kinh mà còn ở cả những vùng chỉ toàn học sinh dân tộc thiểu số, cha mẹ chỉ nói tiếng thiểu số, không biết tiếng Việt.
Tiếng Việt CNGD là một món quà quý giá đầy nhân văn cho con em các dân tộc Việt Nam.
Trân trọng trẻ em, hiểu trẻ em để dạy trẻ em, dạy trẻ biết tư duy, biết yêu thương và biết cách tự phục vụ là đích đầu tiên, dung dị và nền tảng nhất trong nhân cách con người mà nhà trường đặt ra. Mô hình Trường Thực nghiệm của GS. Hồ Ngọc Đại cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Ngô Thị Tuyên

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Nên trở về với nền cộng hòa dân chủ theo tư duy Hồ Chí Minh

(Tamnhin.net) - Tinh thần nền cộng hòa theo tư duy của Hồ Chí Minh mà chúng ta có thể cảm nhận được là:
Tinh thần của nền công hòa

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Theo tư duy của Hồ Chí Minh, đó là những lời bất hủ về tinh thần của nền cộng hòa, mà Người tiếp nhận được từ bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Những lời bất hủ ấy cũng đã được Hồ Chí Minh đưa vào Việt Nam qua Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Với khát vọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước; ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, thoát khỏi áp bức bất công cho nhân dân, Hồ Chí Minh cũng đã đến với chủ nghĩa “Tam dân”: Dân tộc độc lập – Dân quyền tự do - Dân sinh hạnh phúc, như đến với những giá trị của tinh thần cộng hòa ở phương Đông.

Mục tiêu tối thượng là giải phóng thuộc địa từ tay thực dân Pháp giành lại độc lập cho đất nước và lợi quyền cho nhân dân, đã thúc đẩy Hồ Chí Minh đến với Lênin, qua bài viết của Lênin về vấn đề thuộc địa. Vấn đề này, ở khía cạnh giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi áp bức bóc lột, bất công do đế quốc thực dân gây ra, thiết nghĩ cũng không nằm ngoài tinh thần cộng hòa - là cái mà Hồ Chí Minh cần tìm, chọn cho Việt Nam.

Tinh thần cộng hòa theo tư duy và hành động cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với việc lựa chọn chính thể cho Việt Nam sau khi giành được độc lập, bao gồm một số nội dung cơ bản như:

-         Nền cộng hòa dân chủ.

-         Sứ mệnh và tầm nhìn của nền dân chủ cộng hòa ấy là: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

-         Tất cả quyền bính là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Tất cả quyền bính đó, được cụ thể hóa trong 11 điều (từ điều 6 đến 16) của Hiến pháp năm 1946, đến nay vẫn còn nguyên giá trị của tính thần cộng hòa, dân chủ.

-         Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật – ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, là cơ sở pháp quyền cho sự phát triển của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.

Sự bất cập của thể chế

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập được bầu ra tại cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được Quốc hội thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946.

Trải qua trên 65 năm, Hiến pháp năm 1946 đã qua 3 lần sửa đổi vào các năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Ba lần sửa đổi đó, mà nhất là lần sửa đổi năm 1992 đã có khoảng cách khác biệt khá xa với tinh thần cộng hòa, dân chủ mà Hiến pháp năm 1946 đã chọn.

Hiến pháp năm 1992, chọn chế độ chính trị là xã hội chủ nghĩa trong cụm từ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa thay cho Dân chủ Cộng hòa của Hiến pháp 1946.

Vậy xã hội chủ nghĩa (XHCN) là gì mà vừa thay cho Cộng hòa Dân chủ, lại vừa gắn kết với cộng hòa trong cụm từ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa?

XHCN được đề cập ở đây là một hình thái xã hội (xã hội XHCN), mà những người phát kiến ra nó đã đưa vào đó những ý tưởng rất nhân văn, rất đáng được trân trọng. Nhưng mô thức tổ chức vận hành của hình thái xã hội XHCN cả trên góc độ lý thuyết lẫn thực tiễn, lại có không ít những nội hàm không hợp lý, quá lạc hậu, nhất là lạc hậu so với sự phát triển của xã hội hiện đại vốn mang những đặc tính cơ bản đã được sàng lọc, lựa chọn trong quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại, bao gồm kinh tế thị trường, xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền.

Nền tảng chính trị tư tưởng và là kim chỉ nam của sự phát kiến hình thái xã hội XHCN là học thuyết Mác - Lênin. Mà với nhiều kết quả nghiên cứu, lý luận và tổng kết thực tiễn cho biết – học thuyết Mác-Lênin có cái trước đúng nay vẫn đúng, có cái trước đúng nay không còn phù hợp vì bối cảnh xã hội đã có quá nhiều thay đổi, có cái trước và nay đều không đúng. Đơn giản chỉ vì nó “không phải là một học thuyết đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch nào đó”, như cách nói của chính Lênin.

Vì thế, mô thức tổ chức xã hội XHCN, tự thân nó có nhiều khuyết tật gây bất ổn cho hệ thống giải pháp phát triển và hoàn thiện xã hội. Những khuyết tật gây bất ổn đó đã và đang tồn tại gắn liền với một số đặc trưng cơ bản như:

Tổ chức xã hội theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội. Coi Nhà nước XHCN là Nhà nước chuyên chính vô sản và trên thực tế đã không tránh khỏi tình trạng lấy vô sản chuyên chính dân tộc đánh vào khối đại đoàn kết dân tộc.

Mô thức tổ chức và vận hành nền kinh tế bị chi phối hầu như  tuyệt đối bởi chế độ công hữu tư liệu sản xuất (bao gồm cả ruộng đất) là nền tảng, kinh tế Nhà nước là chủ đạo và phương thức kế hoạch hóa tập trung, bao cấp thay cho phương thức thị trường. Chọn mô thức tổ chức và vận hành như thế là không phù hợp với tinh thần “lấy dân làm gốc”, không khuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển mọi nguồn lực của dân từ khu vực dân doanh.

Trong khi đó, khu vực kinh tế Nhà nước,  nhất là các tổng công ty và tập đoàn kinh tế lớn được quá nhiều ưu ái, giao cho quá nhiều nguồn lực (cả nguồn lực cứng lẫn nguồn lực mềm) vượt quá tầm quản lý (cả quản trị kinh doanh và quản lý nhà nước), và hệ lụy khôn lường đã và đang đến là vừa kinh doanh không hiệu quả, vừa làm vẩn đục môi trường kinh doanh, tạo quá nhiều lỗ hổng cho cạnh tranh không lành mạnh, gây lãng phí, thất thoát và tham nhũng vô phương cứu chữa.

Đảng nắm quyền lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối mọi mặt hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, và trên thực tế quyền lãnh đạo đó đã trở thành siêu quyền lực, ( có nơi có lúc là Đảng trị cộng với sùng bái cá nhân) đặt lên trên dân quyền và pháp quyền. Sự hiện hữu của siêu quyền lực như vậy, không phù hợp với tinh thần đề cao dân chủ và thượng tôn pháp luật. Tập trung thái quá quyền lãnh đạo của Đảng làm cho Đảng bị tha hóa và cũng làm cho các bộ phận quyền lực khác của hệ thống chính trị nói riêng và toàn xã hội nói chung (bao gồm quyền của người dân và công dân) bị vô hiệu hóa, trở thành hữu danh vô thực. Hệ lụy đã và đang đến là, đã mất quyền thì cũng mất luôn trách nhiệm xã hội, khiến cho xã hội không có người làm chủ đích thực và trở thành chỗ dung thân hợp pháp cho thói vô trách nhiệm và vô cảm.

Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN với những đặc trưng vốn hàm chứa nhiều khuyết tật gây bất ổn cho giải pháp phát triển và hoàn thiện xã hội như vậy thực sự không còn đáng được tồn tại trong sự lựa chọn thể chế chính trị mà Hiến pháp cần có.

Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN như vậy, cũng có khoảng cách khác biệt quá xa với tinh thần của nền cộng hòa theo tư duy Hồ Chí Minh. Do vậy, cũng không thể ghép “XHCN” đó với “cộng hòa” trong cụm từ “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” để giữ lại cái tên nước Việt Nam là nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” như đã ghi trong Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.

Hiến pháp năm 1992 so với Hiến pháp năm 1946 là một bước thụt lụi. Không có những đột phá về cải cách thể chế trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khó có thể có được kết quả lập hiến ngang tầm với giai đoạn phát triển mới.

Mấy kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Xin nêu mấy vấn đề, cũng có thể coi là những ý tưởng muốn góp vào Hiến pháp sửa đổi:

-       Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, đảng phái.

-       Chế độ chính trị mà Việt Nam lựa chọn đưa vào Hiến pháp là Cộng hòa (hoặc Cộng hòa – Dân chủ hay Cộng hòa – Dân chủ - Nhân dân). Sứ mệnh với tầm nhìn xa của chính thể Cộng hòa là bảo vệ nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, xã  hội dân chủ, công bằng, văn minh.

-       Lợi quyền lớn nhất, cao nhất kể cả quyền sửa Hiến pháp là của toàn dân. Nghiêm cấm bất kỳ sự áp đặt lợi quyền nào khác lên trên lợi quyền của dân, do dân, vì dân.

-       Nhà nước của nước Cộng hòa Việt Nam (hoặc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Việt nam) là Nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, của dân, do dân, vì dân chứ không thể chỉ phân công ba quyền dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng như hiện nay.

-       Điều 4 của Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 đều khẳng định Đảng Cộng sản Việt nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội Việt Nam. Thiết nghĩ, trong  Hiến pháp sửa đổi, điều này nên dành cho những quy định của Hiến pháp về Đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền phải trung thành với Hiến pháp và tuân thủ pháp luật, được nhân dân lựa chọn với những giới hạn thời gian nhất định, chịu sự giám sát, phán xét và xử lý của nhân dân theo Luật định.

-       Với tầm của Hiến pháp, cần có quyết sách đúng và rõ về chủ quyền và quyền sở hữu về đất đai.

Đất đai là tài nguyên và môi trường tự nhiên, như tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên nước, thời tiết khí hậu và đa dạng sinh học, vùng trời, vùng biển và hải đảo . . . thuộc chủ quyền quốc gia, Nhà nước được trao quyền quản lý, ai khai thác sử dụng phải được Nhà nước cho phép, chịu sự chế tài của pháp luật và phải nộp thuế cho Nhà nước.

Đất được đưa vào sử dụng, trở thành sản phẩm của lao động (thậm chí cả lao động cha truyền con nối), là tài sản của chủ thể sản xuất kinh doanh nhất định. Trong sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất, là yếu tố của sản xuất, như các yếu tố công cụ khác là vật sở hữu của nông dân, không có lý gì đất ở đây không phải là vật sở hữu của nhà nông. Đất là yếu tố cấu thành tài sản trong bất động sản, vốn là một thể thống nhất không thể chia cắt được, tất yếu phải là tài sản, là vật sở hữu của chủ thể kinh doanh bất động sản.

Vì thế với tầm Hiến pháp, lần sửa đổi này, cần có quyết sách đúng về chủ quyền quốc gia về tài nguyên và môi trường tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất. Và cần có sự thừa nhận quyền sở hữu của các chủ thể sử dụng đất với tư cách là tài sản, là tư liệu sản xuất, là yếu tố của sản xuất như bao nhiêu yếu tố khác vốn đã là sở hữu của họ, trong đó có chủ thể là tư nhân (là chủ sở hữu tư nhân), có chủ thể là tổ chức xã hội (là sở hữu tập thể) và có chủ thể là Nhà nước (là sở hữu Nhà nước).

Đất đai là tài sản có chủ sở hữu rõ ràng, trong kinh tế thị trường việc dịch chuyển quyền sở hữu dưới hình thức mua bán đất là tất yếu. Nhà nước khi có nhu cầu vì quốc kế dân sinh thường phải trưng mua theo cơ chế và giá cả thị trường.

-       Mô hình kinh tế tổng quát bị chi phối bởi thể chế kinh tế nặng về công hữu là nền tảng, kinh tế Nhà nước là chủ đạo, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp đã không còn phù hợp, thiết nghĩ phải thay đổi trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Mô hình kinh tế được lựa chọn, thay thế có những đặc trưng cơ bản là: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Hai loại hình – công hữu và tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; ba khu vực - kinh tế công, kinh tế tư  nhân và  kinh tế  hỗn hợp; với đa dạng các chủ thể kinh doanh bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, không coi công hữu là nền tảng và cũng không coi kinh tế Nhà nước là chủ đạo, mà chỉ xác định đúng mức vai trò của Nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam; (3) Thực thi dân chủ trong kinh tế, mà vấn đề cốt lõi là quyền của người dân và thực quyền kinh doanh của doanh nghiệp; (4) Liên kết hợp tác và hội nhập quốc tế.
PGS. Đào Công Tiến
Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TpHCM, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế VN.(Thứ ba, 22/5/2012 16:48 GMT+7
Hay quá!
Được như bài báo viết thì tôi tin Đất nước này sẽ cất cánh bay cao sánh vai với các Quốc gia phát triển toàn Thế giới.Dù thế nào thì cũng rất cám ơn PGS đã nói lên niềm hi vọng của nhiều người; cám ơn Báo Tầm nhìn.net đã đăng bài viết.
Lê Hải
Cảm ơn Thầy Tiến!
Tấm bằng tốt nghiệp của em do thầy ký và đây chính là những gì em học được từ thầy!
Trần Hà Thanh
Quá hay
...chúng ta nên thay đổi sớm hơn trước khi quá muộn.Cảm ơn bài viết này rất nhiều...
duy
Cám ơn bài viết của PGS và báo Tầm Nhìn
Cám ơn PGS đã dám nói và báo tamnhin.net dám đăng. Cần phải có thật nhiều những bài viết thế này để mở toang cánh cửa của đại đa số dân chúng - vốn đang đóng im ỉm, mù mờ, ảo tưởng. Bài viết của PGS có thể bị xóa, nhưng tinh thần của nó sẽ còn mãi - sẽ đồng điệu với những người cùng chung tấm lòng và niềm trăn trở cho tổ quốc.
Châu Trần
Đúng quá đi !
Bài viết của PGS không mới nhưng cực kỳ đúng với suy nghĩ của đa số người Dân VN . Tôi xin chân trọng cảm ơn PGS cùng báo mạng tầm nhìn đã dũng cảm đưa bài viết đến với công luận . VN cần từ bỏ cái chưa bao giờ có và sẽ không bao giờ có : chủ nghĩa xã hội mà quay trở về nền dân chủ và cộng hòa như mong muốn của người con Dân Tộc và vĩ đại- cố chủ tịch Hồ Chí Minh . NVL
Nói và lờ
Hoàn toàn ủng hộ
Hoan nghênh PGS và Tamnhin.net đã viết và cho đăng bài báo này. Thiết nghĩ đây cũng là nguyện vọng của rất..rất nhiều người Việt nam yêu nước. Đề nghị các Vị lãnh đạo Đảng CS và các vị Dân biểu quan tâm tới nguyện vọng chính trị chính đáng này của nhân dân.
Manh hung
ỦNG HỘ Ý KIẾN NGHỊ CỦA GS. ĐÀO CÔNG TIẾN
Tôi nhiệt thành ủng hộ ý kiến của PGS. Đào Công Tiến. Tôi động viên thậm chí là kêu gọi toàn thể bạn đọc trang của Trương Duy Nhất cũng ủng hộ như tôi và nhiều bạn khác . Suy cho cùng nếu nước ta có một bộ hiến pháp cũng văn minh như các nước văn minh thì đó sẽ là động lực to lớn đi đến ” dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” đấy các bạn ạ. Hiến pháp hiện thời của nước ta là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến mọi xấu xa ung nhọt, bất công, nghèo hèn trong xã hội ta hiện nay đấy. các bạn đọc lại đi rồi cùng ủng hộ ý tưởng của giáo sư nhé .( hẳn nhiên GS là đảng viên gộc kỳ cựu rồi. Nhưng vì ông là một trí thức thực sự cho nên không thể không đau lòng trước hiện tình đất nước )
ngyn
Hiến pháp và tên nước
Đúng vậy, XHCN ở đây chỉ là một hình thái xã hội, là giai đoạn đầu của xã hội Cộng sản chủ nghĩa, cả hai suy cho cùng là được Mác nghiên cứu, dự đoán và được Lê Nin xây dựng phát triển trong thực tiễn. Nếu dự đoán của Mác là đúng thì cả nhân loại tất sẽ đi tới không phụ thuộc tên gọi của quốc gia là gì. Tuy nhiên tên gọi của mỗi quốc gia nói theo ngôn ngữ kinh tế hiện đại là một phần quan trọng của thương hiệu quốc gia nó thể hiện đặc điểm và khát vọng của nhân dân của mỗi quốc gia đó, theo quan sát của tôi thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo chính thể Cộng hòa, tên các quốc gia đa phần đều gắn tên Quốc hiệu với từ Cộng hòa (có thể kèm theo từ Nhân dân, Liên bang...), tên của nước Việt nam ta thì hơi khác là gắn Quốc hiệu với tên của một hình thái xã hội, nếu nay mai tiến lên CNCS rồi thì phải đổi tên chăng? Bác Hồ của chúng ta quả là một người có tầm nhìn vượt thời đại và có một hiểu biết đáng kinh ngạc, thông thường người ta hay có sự liên hệ giữa Cộng hòa và dân chủ, tuy nhiên khoảng cách về mục tiêu dân chủ còn có một khoảng cách khá xa, tất nhiên có thể gộp 2 khái niệm này thành một khía niệm Cộng hòa hiện đại, Bác Hồ đã ghép 2 từ Dân chủ và Cộng hòa cùng với Quốc hiệu để thành một tên nước hoàn hảo, sự hoàn hảo này còn được thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp do Bác đích thân soạn thảo. Như vậy có thể thấy tên nước cũng rất quan trọng và quan trọng hơn nữa là cần là một bản Hiến pháp của dân, do dân và vì dân, một bản Hiến pháp khoa học, dân chủ, văn minh và mang hơi thở của thời đại. Những đề nghị sửa đổi Hiến pháp của PGS Đào Công Tiến đã nói hộ nhiều người và rất đáng để suy nghĩ!
Trần Anh Tuấn
Bài báo hay quá
Bài báo hay quá. Tôi rất đồng tình với ý kiến này. Sao ta vẫn hô hào học tập theo Cụ Hồ mà cái đáng học tập như thế lại bỏ đi nhỉ
Anh Đức
Bài viết chất lượng!
Tác giả có lẽ rất am hiểu về tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tâm huyết với việc đóng góp ý kiến nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý xã hội hiện nay. Nhưng đây là một vấn đề lớn, phức tạp cần tổng kết thực tiễn và có lộ trình phù hợp.
mr binh
Góp ý
Tiêu đề tác giả nên gọi là nền Dân chủ cộng hòa mơí chính xác.
Lê Phương Hải
Tôi đang nằm mơ chăng?
Tôi phải dụi mắt mấy lần để đọc bài này và tự hỏi: "mình đang nằm mơ chăng?" Không biết PGS đã gởi Quốc hội chưa nhỉ
KV
bài viết rất hay.
Trời ơi! Giá như các bác nhà ta, ai cũng có những suy nghĩ như bác Công Tiến, có phải dân được nhờ không.
Bùi Chiến Thắng
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đúng
Khi còn sống, ông Võ Văn Kiệt cũng băn khoăn sao lại đổi tên là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam? Tôi đề nghị trở lại tên "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".
Phạm Minh Vũ

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

Vì sao các nhà quản lý giáo dục cần phải đọc sách?*


Nguyễn Thị Từ Huy
Sự hình thành ý thức và kiến thức về giáo dục và quản trị giáo dục chỉ có thể có được khi các nhà quản lý chịu học hỏi. Một trong những cách chịu học là chịu đọc sách, chịu đọc, nếu muốn nói một cách khái quát hơn.
Việt Nam hiện đang khủng hoảng trên nhiều phương diện, và để giải quyết các khủng hoảng đó, vấn đề của Việt Nam là, trong bộ máy quản lý và lãnh đạo các cấp cần có những người hiểu rằng quyền lợi của họ gắn với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc. Cần có những người hiểu rằng sự thành công của họ phụ thuộc vào sự phát triển của đất nước, phụ thuộc vào sự thịnh vượng và hạnh phúc của toàn thể nhân dân, chứ không phải chỉ của một bộ phận nhỏ đặc quyền đặc lợi. Việt Nam ngày nay cần có những người lãnh đạo hiểu rằng hình ảnh của nhân dân cũng chính là hình ảnh của họ, uy tín của họ gắn với uy tín của đơn vị, của quốc gia.

Để cho nền giáo dục này không tiếp tục tụt hậu, để cho nền giáo dục này có thể được xây dựng lại, cần có các nhà quản lý giáo dục coi giáo dục là một sự nghiệp, và hiểu rõ cần phải làm gì để gây dựng sự nghiệp đó.
Giáo dục Việt Nam cần có những nhà lãnh đạo hiểu rằng, thành tích của nền giáo dục không phải là những khẩu hiệu suông dán trên tường hay những văn kiện có thể được học sinh học thuộc lòng như vẹt nhưng không được thực hiện trong đời sống thực. Xây dựng thành tích theo kiểu đó là một trong những nguyên nhân hủy hoại nhân tính, tàn phá năng lực trí tuệ, bởi vì nó tập cho học sinh quen với sự giả dối, biến giả dối thành một tính cách tập thể. Và đó chính là nền tảng dẫn tới mọi thói hư tật xấu khác: vô cảm, vô nhân đạo, độc ác… Sự băng hoại của xã hội là tất yếu khi mà nền giáo dục tạo ra những con người như vậy.


Giáo dục Việt Nam cần có những nhà lãnh đạo hiểu rằng, chỉ có thành tích khi thực sự đào tạo được những con người phát triển về trí tuệ, có nhân phẩm và đạo đức, mạnh mẽ trong tính cách, tự lập, tự chủ, có khả năng và kỹ năng thực hiện những công việc lao động phù hợp với năng lực của mình để tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, có khả năng xây dựng một xã hội phát triển trong đó mình có thể sống hạnh phúc cùng với những người khác trong sự bao dung, lòng trắc ẩn, vị tha và với ý thức hướng thiện, hướng tới cái đẹp. Thành tích của giáo dục biểu hiện ở chỗ nó đào tạo được những con người có khả năng giải quyết các vấn đề của quốc gia, và cao hơn, của nhân loại, có khả năng phát triển nền kinh tế, có khả năng tạo ra các giá trị văn hóa, giá trị tinh thần, có khả năng thiết lập một thể chế pháp luật hợp lý, đảm bảo công lý, công bằng cho tất cả mọi người, và vì thế mà đưa lại an sinh và hạnh phúc cho xã hội.

Sự khủng hoảng toàn diện của Việt Nam hiện nay phản ánh sự bất lực của giáo dục Việt Nam. Giáo dục Việt Nam cần có các nhà lãnh đạo ý thức một cách sâu sắc về điều đó, dám thừa nhận và đối diện với thực trạng, dám nhìn nhận việc thành tích bị đồng nhất với danh hiệu và điểm số thực chất là một căn bệnh hiểm nghèo cần phải chữa trị, trước khi nó kịp trở thành một khối u ác tính và di căn cho tất cả các thế hệ.

Nói cách khác, để cho nền giáo dục này không tiếp tục tụt hậu, để cho nền giáo dục này có thể được xây dựng lại, cần có các nhà quản lý giáo dục coi giáo dục là một sự nghiệp, và hiểu rõ cần phải làm gì để gây dựng sự nghiệp đó.

Các vấn nạn hiện nay của giáo dục đòi hỏi một phong trào cải cách sâu rộng. Điều đó chỉ có thể diễn ra nếu ý thức cải cách được khởi sự từ những người quản lý, và từ những người quản lý ở cấp cao nhất trong hệ thống giáo dục, hoặc trong hệ thống lãnh đạo quốc gia. Việc đề ra và thực hiện các chương trình cải cách lại càng đòi hỏi vai trò và vị trí của các nhà lãnh đạo giáo dục. Các giáo viên đứng lớp hay các công dân trong xã hội có thể đưa ra các phân tích và các ý tưởng cũng như gợi ý về các phương pháp và cách thức, nhưng để kiến thiết thành một hay nhiều chương trình và nhân chúng lên thành diện rộng thì chỉ có các nhà lãnh đạo giáo dục mới có đủ điều kiện để làm được.

***

Sự hình thành ý thức và kiến thức về giáo dục và quản trị giáo dục chỉ có thể có được khi các nhà quản lý chịu học hỏi. Một trong những cách chịu học là chịu đọc sách, chịu đọc, nếu muốn nói một cách khái quát hơn.

Dĩ nhiên sách không đem lại tất cả mọi câu trả lời. Nhưng sách cho ta biết người khác đã nghĩ gì làm gì để có thể thành công, hay thậm chí thất bại. Từ đó mà suy nghĩ về chính thực tế của mình, và để có thể hành động một cách hiệu quả.

Sẽ không phải là cường điệu khi nói rằng sự sống còn của nền giáo dục này phụ thuộc vào việc các nhà quản lý giáo dục có muốn đọc sách, có chịu bỏ thời gian đọc sách hay có khả năng chọn sách để đọc và xử lý được thông tin trong sách hay không.
Việc đọc sách, đối với những người lãnh đạo giáo dục các cấp, càng trở nên cần thiết hơn trong bối cảnh hiện nay, khi sự tuột dốc của giáo dục để lại những hậu họa khôn lường mà có thể chúng ta chưa nhận thức được một cách đầy đủ. Tình thế toàn cầu hóa khiến cho các nước không thể tự cô lập mà còn có thể giữ được sự yên ổn. Còn một khi đã tham gia vào cục diện chung, nếu nền giáo dục không đào tạo được những con người đủ năng lực đưa đất nước tới sự hội nhập, đủ phẩm chất để chinh phục và được công nhận ở đẳng cấp quốc tế, thì sự tụt hậu rất có thể kéo theo sự lệ thuộc, kéo theo sự nô lệ dưới nhiều hình thức: nô lệ về văn hóa, về kinh tế, về chính trị… Rõ ràng, ở tình thế hiện tại, muốn cải cách giáo dục hay muốn tạo bước đột phá cho giáo dục, thì không còn có thể lãnh đạo theo quán tính, theo định kiến, theo những kinh nghiệm và thói quen đã trở nên lỗi thời hay thậm chí mang tính chất kìm hãm. Cần phải có những phương pháp khoa học và hiệu quả trong quản trị giáo dục. Những ai coi giáo dục là sự nghiệp (chứ không phải chỉ là một phương tiện để mở rộng túi tiền cá nhân) và hiểu được ý nghĩa sống còn của giáo dục đối với sự phát triển, đều thấy rằng cải cách quản lý giáo dục, thay đổi quan niệm về giáo dục, là yêu cầu cấp bách, yêu cầu số một, nếu muốn hãm đà tuột dốc của nền giáo dục này và đưa nó ra khỏi cái vực thẳm suy thoái hiện nay.


Sẽ không phải là cường điệu khi nói rằng sự sống còn của nền giáo dục này phụ thuộc vào việc các nhà quản lý giáo dục có muốn đọc sách, có chịu bỏ thời gian đọc sách hay có khả năng chọn sách để đọc và xử lý được thông tin trong sách hay không; và cũng phụ thuộc vào việc hàng ngũ quản lý có chấp nhận hay không những người có năng lực lãnh đạo, chịu khó đọc sách và có khả năng biến kiến thức sách vở thành hiệu quả thực tế.

---

* Trích tham luận tại Hội thảo “Sách và chấn hưng giáo dục”

Đoạn kết buồn của đề án 322


Theo Tuổi trẻ

Học viên đề án 322 đợt 1-2011 nhận
giấy chứng nhận sau khóa học tại Trung tâm
đào tạo khu vực của Seameo VN -
Ảnh do Trung tâm Seameo cung cấp
Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án 322) buộc phải dừng đột ngột khi không được tiếp tục cấp kinh phí.
Đề án 322 là một chương trình nhận được nguồn kinh phí rất lớn trong điều kiện đất nước còn nghèo, kéo dài trong một thập kỷ. Tổng kết nguồn ngân sách cho đề án, ông Nguyễn Xuân Vang, cục trưởng Cục Đào tạo nước ngoài - Bộ GD-ĐT, cho biết kinh phí đã chi cho việc đào tạo từ năm 2.000- 2010 là trên 2.500 tỉ đồng, trung bình mỗi năm chi 228,5 tỉ đồng.

Gần 4.600 người đi học

Đề án này nhận được sự kỳ vọng rất lớn từ nhiều phía. Và đánh giá sau hơn 10 năm thực hiện, ông Phạm Sỹ Tiến, người đầu tiên nhận trọng trách điều hành đề án 322, nhận định: “Nhờ có đề án mà đã có gần 4.600 người được đi học nước ngoài, trên 3.000 lưu học sinh đã được đào tạo và trở về. Nhiều người trong số này đã giảng dạy và nghiên cứu khoa học tốt”.

Ông Tiến nói: “Trong hơn 10 năm, đề án 322 đã gửi người đi học tại 832 cơ sở đào tạo của 34 nước tiên tiến, trong đó có nhiều cơ sở thuộc nhóm 50 trường hàng đầu thế giới. Các ngành cử người đi học gồm khoa học công nghệ trọng điểm, những ngành nghề thuộc lĩnh vực khoa học, kinh tế - xã hội. Có 13% trong số lưu học sinh về nước hoàn thành khóa học xuất sắc. Hầu hết những người có trình độ tiến sĩ đều có trên hai công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín của thế giới, một số người có công trình khoa học xuất sắc được khen thưởng.

Thế nhưng, tiếp xúc với chúng tôi, H.M., một giảng viên học công nghệ sinh học theo đề án 322 đã về nước, cho biết: “Hiện tại, trung bình tôi phải dạy 400-500 tiết/năm. Thu nhập chính mang lại từ giảng dạy. Nếu tôi không dạy thì không đủ sống. Lương thấp, thu nhập từ nghiên cứu khoa học thì càng ít ỏi. Với chế độ lương hiện tại, khó dồn hết cả tâm sức cho khoa học”.

Anh N.H., du học theo đề án 322 về nước năm 2007, hiện không làm việc tại trường cũ mà nhận làm việc cho doanh nghiệp, giải thích: “Trước khi đi nước ngoài, tôi cũng kỳ vọng vào nhiều điều. Nhưng về nước, môi trường làm việc vẫn không thay đổi. Cách quản lý thì cào bằng. Người có năng lực, có cống hiến cũng đối xử như người làm dở. Khi về nước tôi cũng hăm hở lắm, nhưng sản phẩm nghiên cứu của tôi không được đánh giá đúng mức. Tôi chuyển sang doanh nghiệp vì họ coi trọng công sức của tôi. Tôi cảm thấy có ích hơn”.

Không phát huy được năng lực

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga thừa nhận còn có nhiều bất cập trong việc thực hiện đề án như phương thức đào tạo phối hợp gặp khó khăn do người học hạn chế về ngoại ngữ, trong khi việc hỗ trợ bồi dưỡng ngoại ngữ cho ứng viên khi còn ở trong nước chưa được chú trọng đúng mức. Quy định trong việc cử người đi học cứng nhắc nên đã không khuyến khích được những người trẻ có năng lực đi học. Việc điều chỉnh mức sinh hoạt phí chậm thực hiện, việc chuyển sinh hoạt phí cho người học ở nhiều nước cũng bị chậm trễ gây khó khăn cho lưu học sinh.

Tuy nhiên, bất cập lớn nhất vẫn là việc không quan tâm đến cơ chế ưu đãi thu hút người sử dụng và tuyển dụng lưu học sinh sau khi tốt nghiệp. “Số lưu học sinh là sinh viên đi học trở về nước rất ít được các cơ quan Nhà nước tuyển dụng với lý do hạn chế chỉ tiêu và điều kiện tuyển dụng cán bộ” - đánh giá của lãnh đạo Bộ GD-ĐT.

Đánh giá hiệu quả của đề án 322, ông Phạm Sỹ Tiến nói: “Điều đáng buồn nhất của đề án là người học được Nhà nước đầu tư rất tốt, nhưng sau khi về nước không phát huy được năng lực của mình, không có môi trường để phát triển nghiên cứu tiếp”. Ông Tiến nhận xét: “Đề án có tốt nhưng “đầu ra” không tốt thì hiệu quả cũng bị giảm sút. Một số du học sinh sau khi về nước đã xin thôi việc ở cơ quan cũ để sang cơ quan khác làm việc hoặc làm việc cho doanh nghiệp. Nhiều người ở lại nước ngoài”.

Sinh viên đoạt giải nhất cũng bị dừng học bổng

Ngày 18-5, Bộ GD-ĐT chính thức có thông báo về việc dừng cấp học bổng 356 (322) cho đối tượng sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện công trình đoạt giải nhất giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2010 và giải nhất giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” năm 2011. Theo ông Tạ Đức Thịnh - vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi trường (Bộ GD-ĐT), do hiện nay không còn chỉ tiêu học bổng theo đề án 356 (322) để xét cấp học bổng thạc sĩ bằng ngân sách nhà nước cho sinh viên thuộc nhóm đối tượng này nên các sinh viên tìm hiểu, đăng ký dự tuyển các chương trình học bổng khác.

Riêng đối với sinh viên tiếp tục chọn học thạc sĩ trong nước thì ngay sau khi tốt nghiệp thạc sĩ và đề án mới được phê duyệt, Bộ GD-ĐT sẽ xét cấp học bổng để đi học trình độ tiến sĩ theo một đề án mới nối tiếp đề án 356 (322) mà bộ đang xây dựng.

Điều quan trọng nhất về giáo dục


Albert Einstein là một khoa học gia và triết gia của thế kỷ 20. Trong thế kỷ đó tên ông đồng nghĩa với thiên tài. Sinh thời ông cũng từng là giáo sư đại học, thể hiện mối quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ qua nhiều bài viết và diễn văn. Trong quyển Ideas and Opinions, Ý tưởng và Quan điểm, tập hợp những suy nghĩ của Albert Einstein về nhiều khía cạnh cuộc sống từ khoa học, xã hội, chính trị đến văn học, nghệ thuật, có một phần về giáo dục. Đương nhiên thế giới chúng ta đang sống đã chuyển sang thế kỷ 21 với vô vàn thay đổi nhanh chóng trong mọi mặt đời sống xã hội, mà nói đến giáo dục là nói đến tương lai tính bằng thập kỷ - mười mấy hai ba bốn chục năm nữa. Có thể có người coi quan điểm giáo dục cách nay sáu bảy chục năm đã lỗi thời. Nhưng vì tôi đồng quan điểm với Einstein nên tôi xin trích dẫn ý kiến của ông.
Động cơ quan trọng nhất đối với lao động trong nhà trường và trong cuộc đời là niềm vui trong công việc, niềm vui trong kết quả của lao động đó, và hiểu biết về giá trị của kết quả đó đối với cộng đồng. Tôi nhận ra nhiệm vụ quan trọng nhất được nhà trường giao phó khi đánh thức và củng cố sức mạnh tâm lý của một chàng trai trẻ. Chỉ riêng một nền tảng tâm lý như thế đủ dẫn tới niềm khao khát hân hoan đối với của cải cao quí nhất của con người, là tri thức và kỹ năng bậc nghệ sĩ”.
Einstein đã phát biểu như trên nhân lễ kỷ niệm 300 năm giáo dục đại học tổ chức ở Albany, New York, ngày 15 tháng 10, 1936, trong một bài diễn văn có tiêu đề “On Education”, bàn về giáo dục. Trong phần mở đầu, rồi lập lại ở phần kết, ông khiêm tốn coi mình là người không hẳn có chuyên môn về sư phạm, mà chỉ có kinh nghiệm riêng và niềm tin cá nhân, với tư cách một người học và một người dạy. Ông nói nếu là vấn đề khoa học thì người không chuyên môn và thiếu căn cứ chỉ nên im lặng. “Tuy nhiên, với những việc liên quan đến con người thiết thực thì khác. Ở đây hiểu biết về chân lý mà thôi thì không đủ; ngược lại hiểu biết này phải được liên tục làm mới lại bằng sự cố gắng không ngừng, nếu không kiến thức sẽ mất đi. Giống như một bức tượng cẩm thạch đứng trong sa mạc và luôn bị nguy cơ vùi lấp trong gió cát. Những bàn tay chăm chút phải luôn hoạt động để giữ cho bức tượng tiếp tục tồn tại trong ánh thái dương. Tôi xin góp tay vào công việc đó”.

Khi mời Einstein phát biểu người ta không đặt cho ông vấn đề đại học nên chú trọng ngành tài chính ngân hàng hay khoa học kỹ thuật, nhưng hẳn là người ta trông mong ông có ý kiến về việc đào tạo thế hệ tương lai cái gì và như thế nào. Sau khi dành 5/6 trang nói về ý nghĩa và tinh thần của một nền giáo dục có giá trị, Einstein nói: “ Tôi đã nói đầy đủ về việc thanh niên nên, theo quan điểm của tôi, được giáo dục trong tinh thần như thế nào. Nhưng tôi chưa nói gì về việc lựa chọn ngành học, hay phương pháp dạy học. Nên chú trọng ngôn ngữ hay giáo dục kỹ thuật trong khoa học?

Câu trả lời của tôi là: Tất cả những điều đó đều có tầm quan trọng bậc hai. Nếu một thanh niên rèn luyện cơ bắp và thể lực dẻo dai bằng thể dục và đi bộ, thì sau này anh ta thích hợp với mọi lao động chân tay. Điều này cũng tương tự như rèn luyện trí tuệ và thể dục tinh thần và thủ thuật. Cho nên định nghĩa của bậc thông thái về giáo dục không sai: “Giáo dục là cái còn lại, nếu người ta lỡ quên hết mọi thứ đã học ở trường.” Vì lý do này tôi không hào hứng đứng hẳn về một phe nào trong cuộc tranh chấp giữa những người chủ trương một nền giáo dục lịch sử triết học cổ điển hay một nền giáo dục trọng tâm là khoa học tự nhiên.

Mặt khác, tôi muốn phản đối ý kiến cho rằng trường học cần dạy trực tiếp kiến thức chuyên môn và những thành tựu mà người ta có thể sử dụng trực tiếp trong đời sống. Nhu cầu cuộc sống nhiêu khê đến nỗi sự huấn luyện chuyên môn trong nhà trường không có vẻ khả thi. Ngoài ra, hơn thế, tôi thấy rất khó chịu khi đối xử với một cá nhân như một công cụ vô hồn. Nhà trường nên luôn đặt mục tiêu là thanh niên tốt nghiệp với một nhân cách hài hòa, chứ không chỉ là một chuyên gia. Quan điểm này của tôi cũng áp dụng cho cả những trường kỹ thuật, nơi sinh viên chuyên chú theo đuổi một nghề chuyên môn nhất định.

Điều quan trọng bậc nhất là phát triển khả năng tư duy và phán đoán độc lập, chứ không phải có được kiến thức chuyên môn. Nếu một người am hiểu tường tận nền tảng môn học của mình và học được cách suy nghĩ và làm việc độc lập, anh ta chắc chắn tìm ra con đường cho mình, và hơn nữa sẽ có thể điều chỉnh bản thân mình cho thích nghi với sự tiến bộ và những thay đổi, tốt hơn hẳn so với những người được đào tạo chuyên môn với kiến thức cụ thể chi tiết”.

Mười sáu năm sau, trong bài Nền giáo dục cho tư duy độc lập đăng trên New York Times số 5 tháng 10, 1952, Einstein lại viết:

“Đào tạo một người một ngành chuyên môn thì không đủ. Được đào tạo như vậy người đó có thể trở thành một cái máy hữu dụng chứ không phải một nhân cách phát triển hài hòa. Điều thiết yếu là sinh viên đạt được hiểu biết và cảm nhận sinh động các giá trị. Anh ta phải có một nhận thức sâu sắc về những điều đẹp và tử tế. Nếu không, anh ta – với kiến thức chuyên môn – sẽ gần giống với một con chó được huấn luyện giỏi hơn là một con người phát triển hài hòa. Sinh viên phải học để hiểu những động lực sống của nhân loại, những ảo tưởng và những khổ đau của họ để có được mối quan hệ đúng với từng cá thể đồng loại và với cộng đồng nhân loại.
Những điều cao quí này được truyền giao cho thế hệ trẻ thông qua tiếp xúc trực tiếp với người dạy – hoặc chí ít cũng là chủ yếu - chứ không phải thông qua sách vỡ. Chính điều này tạo lập và bảo tồn văn hóa một cách căn cơ. Tôi nghĩ đến điều này khi khuyến cáo “nhân văn” là ngành học quan trọng, chứ không phải kiến thức chuyên môn khô khan trong các môn sử và triết.

Quá nhấn mạnh vào hệ thống cạnh tranh và chuyên môn hóa chưa thuần thục ở mức độ hữu dụng tức thì, bao gồm cả kiến thức chuyên môn hóa, giết chết tâm hồn mà toàn bộ đời sống văn hóa phụ thuộc vào.

Một điều cũng rất quan trọng đối với một nền giáo dục có giá trị đó là phát triển tư duy phê phán độc lập ở những người trẻ, một sự phát triển bị tác hại lớn do chồng chất lên sinh viên quá nhiều kiến thức và môn học quá khác biệt (hệ thống điểm). Quá tải tất yếu dẫn tới nông cạn. Dạy học nên là một hoạt động mà điều được truyền giao được tiếp nhận như món quà quí giá chứ không phải như một bổn phận nhọc nhằn”.

Đó là bài viết cuối cùng của Einstein đề cập đến giáo dục. Ông mất 3 năm sau đó. Có thể coi đây là di ngôn giáo dục của ông.

Lý Lan trích dịch từ

Sao lại gọi sống “thử”, tôi thấy nó rất thật!

- Tôi không hiểu chữ “thử” mà người ta dành cho cuộc sống như vậy có ý nghĩa như thế nào vì chúng tôi đều sống rất thật.

TIN BÀI KHÁC:

Mối tình đầu đến với tôi vào năm mười chín tuổi, đến một cách vội vã và ra đi như bong bóng xà phòng.

Đó là một chàng trai có ngoại hình bình thường, gia đình khá giả, khá khoác lác và thích đề cao bản thân. Anh ấy hoàn toàn không gây cho tôi ấn tượng nào. Chúng tôi biết nhau qua một forum đồng hương trên mạng, tôi có đi “offline” với hội đồng hương này vài lần.

Ảnh minh họa
Lần đó, nhóm chúng tôi kéo nhau đi chơi xa, tận Vũng Tàu. Anh chở tôi. Trên đường về, trời tối đen và mưa tầm tã, tôi lạnh run và ngồi sát lại vòng tay ôm eo anh. Gần tới Sài Gòn bỗng nhiên tôi nói:

- Em không muốn về nhà!

- Vậy em muốn đi đâu? Anh trả lời sau một thoáng im lặng.

- Em không biết! Em không muốn về nhà! Tôi bướng bỉnh.

Sau đó anh đưa tôi về nhà trọ của anh. Tối đó, tôi và anh ngủ chung. Tôi không cho anh làm chuyện ấy, khi đó tôi vẫn còn là con gái.

Ngẫm lại tôi thấy rùng mình, không hiểu vì sao tối đó lại đi hoang, lại gần gũi anh một cách dễ dàng như thế, có phải vì cảm giác lạnh lẽo và cô độc nơi xứ người đã làm cho tôi khao khát hơi ấm, khao khát một chỗ dựa?

Lần đầu tiên của chúng tôi sau đó hai tuần. Sau đó hai tuần nữa chúng tôi dọn về sống chung. Hai đứa sinh viên xa gia đình đã “sống thử” một cách lẹ làng như thế. Tôi không hiểu chữ “thử” mà người ta dành cho cuộc sống như vậy có ý nghĩa như thế nào vì chúng tôi đều sống rất thật và cũng chẳng có ý định dùng nó làm bản nháp cho hôn nhân sau này. Nếu cho tôi đặt tên, tôi xin đặt tên nó là “sống lén”.

Chúng tôi đã sống một cách rất lén lút và thiếu thốn. Có lần, chị gái của anh đến tìm anh đột ngột, tôi phải vội vã gom toàn bộ quần áo của mình giấu đi và mặc đồ âu làm ra vẻ như tôi vừa tới phòng anh chơi. Chị anh ngồi chơi bao lâu thì chúng tôi thót tim bấy lâu. Rồi có lần mẹ tôi dưới quê lên ở lại ba ngày để khám bệnh. Anh phải ôm hành lý trốn đi nơi khác ở nhờ, còn tôi thì phập phồng, tim muốn rớt ra ngoài mấy ngày liền vì sợ bà chủ nhà vô tình kể với mẹ.

Trong những tháng ngày sống chung, chúng tôi có thương yêu, có đùm bọc nhưng cãi vã thì nhiều, nhiều lần gây sự những chuyện vớ vẩn, có cả đánh nhau nữa. Anh đánh tôi một cái thì tôi đánh lại hai cái, cứ đấm qua đấm lại, như con nít lớp một vậy.

Cuối cùng, chúng tôi chia tay sau bốn tháng gắn bó. Tôi nói lời chia tay, đơn giản vì tôi đã chán, thứ gì mau thích thì cũng mau chán, thêm nữa là càng ngày càng nhận ra người ta hoàn toàn không hợp với mình.

Trong chuyện tình này ngay từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, tôi đã hoàn toàn để mặc cho cảm xúc chiến thắng lý trí. Cho tới bây giờ tôi vẫn không hiểu cảm xúc của chính mình trong đêm mưa đó, vì sao tôi lại đến và ngủ lại nhà một người con trai xa lạ? Và nếu không có phút yếu lòng ấy có lẽ đã không có những tháng ngày sau này. Chỉ có thể lý giải một phần vì tôi buông thả, một phần vì xa gia đình nên cần một cảm giác mới, một nơi ấm áp, một sự thương yêu hơn là không khí lạnh lẽo với những đứa ở ghép mỗi đứa một quê nơi phòng trọ.

Khi cuộc tình đầu chóng vánh đi qua, tôi không bị mất mát hay thiệt thòi nhiều về thể xác và tinh thần như nhiều bạn nữ khác. Người ấy thương yêu tôi và đối xử tốt với tôi, tôi làm mọi việc hoàn toàn tự nguyện. Nhưng tôi thật sự mệt mỏi và hối hận. Nỗi mệt mỏi làm tôi chán chường, đôi khi cảm giác chua chát. Tôi chán yêu và khi nghĩ lại quá khứ luôn thấy khinh thường chính mình. Khi ta không thể tôn trọng chính bản thân ta, đó thực sự là bi kịch.

Cuối cùng, tôi khẳng định: “yêu nhanh sống thoáng” thì chín mươi phần trăm sẽ không đến được với nhau và chỉ gây ra nhiều tổn thương. Khi yêu quá nhanh chúng ta sẽ không thể đủ thời gian để nhìn nhận trọn vẹn về một con người và nhìn nhận trọn vẹn tình cảm của chúng ta. Nếu thời gian quay lại chắc chắn tôi sẽ sống chậm hơn, chín chắn hơn.
Bạn đọc giấu tên

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Tòa án độc lập và các cơ chế hiến định cần có


GS Susan Williams
Toà án độc lập giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lạm quyền bởi lập pháp và hành pháp. Nhưng toà án chỉ có thể thực hiện tốt vai trò này khi Hiến pháp bảo vệ tòa án bằng cách minh định các bảo đảm và sự độc lập cần thiết, để toà án có thể đối trọng với các ngành khác trong chính quyền và bảo vệ các quyền con người một cách hữu hiệu.
Toà án là cơ chế quan trọng để bảo đảm việc thực thi Hiến Pháp

Một quốc gia có thể có một bản hiến pháp với những lời lẽ thật hoa mỹ mà không có tác dụng gì trong thực tế, nếu không có cơ chế thi hành bản Hiến pháp đó. Mọi chính quyền – ngay cả các chính quyền tốt và dân chủ – đôi khi cũng vi phạm hiến pháp. Đặc biệt, quyền con người rất dễ bị tổn thương, bởi vì cả lập pháp lẫn hành pháp đều có lợi khi vi phạm quyền của một cá nhân nào đó. Lập pháp hay hành pháp vi phạm quyền con người có thể do thiếu hiểu biết (họ không ý thức được họ đang vi phạm quyền) hoặc vì lo sợ (trong tình trạng khẩn cấp quốc gia, khi sự lo âu hoảng hốt dâng cao), hoặc chỉ vì họ cho rằng có những mục tiêu quan trọng hơn là quyền con người (như lợi ích của chính họ hay nguyện vọng của các cử tri của họ). Trong các trường hợp như vậy, hiến pháp cần minh định một cơ quan độc lập có quyền và trách nhiệm thực thi hiến pháp, trong đó có việc thực thi các điều khoản nhân quyền. Tòa án có thể không phải là cơ chế thi hành hiến pháp duy nhất (và thực sự, có thêm các cơ chế khác như văn phòng kiểm tra đặc biệt, tương tự như mô hình Ombudsman của Đan Mạch, là một ý kiến hay). Nhưng toà án là một cơ quan bảo hiến quan trọng. 

Toà án phải độc lập với mọi ngành khác trong chính quyền

Toà án phải giữ vai trò giám sát thường xuyên và xông pha trong thực thi hiến pháp: Toà án phải “canh giữ” Hiến pháp khỏi những lạm dụng bởi chính quyền. Để hoàn thành vai trò đó một cách hữu hiệu, toà án phải độc lập với mọi ngành khác trong chính quyền. Nếu thẩm phán chịu sự chi phối của quyền hành pháp hoặc lập pháp – ví dụ như có thể bị Chủ tịch nước tuỳ nghi bãi nhiệm, hoặc bị trừ lương bởi quyết định của ngành Lập pháp – thì họ sẽ  không thể đương đầu kháng cự những vi phạm Hiến pháp của các cơ quan đó. Chỉ khi nào ngành Tòa án được bảo vệ khỏi những ảnh hưởng và kiểm soát bởi các ngành khác trong chính quyền, Tòa án mới có thể trở thành cơ quan bảo vệ Hiến pháp hữu hiệu.

Tòa án cần một số cơ chế bảo vệ đặc biệt

Để thật sự độc lập với các ngành khác của chính quyền, toà án và các thẩm phán cần một số cơ chế bảo vệ đặc biệt.

1. Các thẩm phán phải được bổ nhiệm qua một thủ tục hạn chế việc các chính trị gia có thể cài những người thân cận, như bạn bè hoặc thân hữu hoặc cử tri, vào tòa án. Mục đích là để đảm bảo các thẩm phán được bổ nhiệm do trình độ và khả năng, cũng như do tinh thần trách nhiệm và ý thức đạo đức nghề nghiệp của họ. Để đạt được điều này, một trong những cách tốt nhất là đề ra thủ tục bổ nhiệm trong đó nghiệp đoàn độc lập của giới luật sư, hay luật sư đoàn, chịu trách nhiệm đưa ra một danh sách các ứng viên cho các vị trí thẩm phán. Các nghiệp đoàn này tất nhiên phải độc lập với chính quyền. Chỉ khi nào có sự độc lập đó, họ mới có thể có động lực kiến tạo và giữ gìn các tiêu chuẩn khắt khe về khả năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, để có thể nâng cao uy tín cho ngành nghề của họ. Các ứng viên vào vị trí thẩm phán phải là những người có uy tín trong ngành luật vì sự hiểu biết và khả năng phán xét của họ. Khi có vị trí thẩm phán nào cần bổ nhiệm, ngành hành pháp phải chọn một trong các ứng viên trong danh sách đó. Ngoài ra, một hội đồng các thẩm phán đương nhiệm cũng có thể tự lập ra một danh sách các ứng viên tương tự cho các vị trí thẩm phán cần bổ nhiệm trong tương lai.

2. Các thẩm phán, một khi đã được bổ nhiệm, phải được bảo đảm nhiệm kỳ làm việc lâu dài. Nhiệm kỳ này có thể là suốt đời hoặc một thời gian nhất định nào đó, nhưng thời gian đó phải đủ dài (từ 10 đến 20 năm có thể là một lựa chọn) để các thẩm phán có thể trau dồi kỹ năng chuyên môn mà không phải lo âu về việc làm trong tương lai trong khoảng thời gian đủ dài đó. Nhiệm kỳ của họ cũng có thể được tính theo tuổi của thẩm phán, ví dụ, nhiệm kỳ của một thẩm phán có thể kéo dài đến tuổi 70. Điều quan trọng là vị trí thẩm phán được bảo đảm trong một khoảng thời gian cụ thể và đủ dài, để các thẩm phán yên tâm làm việc. Thêm vào đó, Hiến Pháp cần bảo đảm rằng một khi đã được bổ nhiệm, một thẩm phán không bị bãi nhiệm trước khi nhiệm kỳ kết thúc, trừ khi có bằng chứng thẩm phán đó đã có những vi phạm đạo đức nghề nghiệp nghiêm trọng. Tiêu chuẩn và thủ tục bãi nhiệm cũng phải được quy định rõ ràng trong Hiến pháp (ví dụ, ai quyết định tiêu chuẩn bãi nhiệm đã hội đủ: tòa án cấp cao hơn hay ngành lập pháp?). Mục đích là để công việc của thẩm phán được bảo đảm ổn định trong thời gian tại chức, và thẩm phán không thể bị mất việc trừ phi có những sai phạm nghiêm trọng. Có như vậy các thẩm phán mới có thể đưa ra các phán quyết mà không sợ bị buộc cách chức vì các phán quyết đó.

3. Lương của thẩm phán trong thời gian tại chức cũng phải được bảo đảm. Lập pháp hay hành pháp chỉ được quyền thay đổi mức lương dành cho thẩm phán với hai điều kiện: (1) các thay đổi, nếu có, sẽ được áp dụng đồng bộ (tức là chúng được áp dụng cho tất cả các thẩm phán cùng cấp, chứ không chỉ riêng cho cá nhân nào); và (2) các thay đổi không được hồi tố (tức là chúng chỉ áp dụng cho những thẩm phán được bổ nhiệm sau đó vào các vị trí liên quan, chứ không áp dụng cho những thẩm phán đang tại vị). Đây là hình thức bảo vệ các thẩm phán, để các cơ quan chính trị không thể trả thù cá nhân một thẩm phán vì một phán quyết họ không thích, bằng cách cắt giảm lương của thẩm phán đó.

4. Ngành Tòa án cần nắm quyền kiểm soát các công việc hành chính nội bộ của ngành mình. Các công việc điều hành nội bộ có thể gồm có việc cử các thẩm phán nào xét xử vụ án nào, số tiền dành cho quản trị ngành được chi tiêu như thế nào, nhân viên hành chính được tuyển dụng hay sa thải ra sao, v.v. Nếu bên lập pháp hoặc hành pháp có thể can dự vào những vấn đề điều hành chi tiết như vậy, họ có thể gây nhiều khó khăn cho các thẩm phán mà họ không ưa. Qua sự can dự hành chính đó, họ cũng có thể gây ảnh hưởng lên các phán quyết của thẩm phán thông qua việc điều khiển nhân sự và phân bổ công việc của toà án. Ví dụ, các thẩm phán thường tuyển dụng phụ tá pháp lý. Nếu hành pháp có thể quyết định ai sẽ được tuyển vào các vị trí phụ tá để giúp trong việc nghiên cứu pháp lý và soạn thảo phán quyết, họ có thể chọn những người tìm cách thúc đẩy nghị trình lập pháp (thay vì đề cao án lệ và công lý trong từng vụ án cụ thể), và có thể gây ảnh hưởng lên kết quả phán xử của các vụ án.  Chỉ khi toàn quyền điều hành các công việc nội bộ, tòa án mới có thể thực sự độc lập với các ngành khác trong chính quyền.