Powered By Blogger

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Đàn ông sợ nhất…

(Dân trí) - 1. Không tiền, không quyền, không thế lực: Đàn ông bẩm sinh khả năng kiềm chế tốt, hy vọng bản thân có thể là người lãnh đạo và được mọi người sùng ái.
 

Hầu hết đàn ông cho rằng khí chất của mình được xây dựng trên thân thế, địa vị. Nếu hoàng đế mất đi ngôi vị, dũng sĩ mất đi trận địa, fan mất đi thần tượng hay đại gia không có chân dài… thì mọi việc đều trở nên khập khiễng.

2. Không có tư chất

Mọi đàn ông đều quan tâm đến tin tức thời sự, cục diện thế giới và hàng loạt vấn đề chính trị, kinh tế. Họ luôn sẵn sàng cùng bạn bàn luận việc lựa chọn bầu cử, các vấn đề chính trị, như thể chính họ là người nắm vận mệnh quốc gia.

3. Không có chỗ xả giận

Nếu chàng của bạn là cầu thủ bóng đá hay vận động viên quyền anh, hãy cảm ơn trời khi chàng không muốn xả giận. Chuyên gia cho biết, nam giới có testosterone quyết định khả năng cạnh tranh, kích thích tâm trạng và bạo lực nhiều hơn phái nữ. Chúng cần được bài tiết trừ khi bạn tình nguyện biến chúng thành khả năng bạo lực ở chàng.

4. Kết hôn

Không phải chàng sợ những tiện ích mà hôn nhân mang lại. Cái làm chàng lo lắng chính là mọi phiền toái nảy sinh trong gia đình. Đàn ông không yêu cầu cao trong tình yêu, chỉ cần hai người yêu thương nhường nhịn. Nhưng hôn nhân lại khác, có thể gây tổn thương đến cả hai. Vì vậy, với đàn ông, chỉ yêu mà không cưới là một lựa chọn khá tốt, vừa duy trì sự hấp dẫn giữa hai bên vừa tránh được nhiều phiền phức.

5. Bị nghi ngờ “bản lĩnh đàn ông”

Trước khi lên giường với người mình yêu, chàng chắc chắn sẽ có giai đoạn khoe khoang sự lợi hại của mình chốn the phòng. Vấp phải thất bại trong quan hệ gối chăn sẽ ảnh hưởng đến sự tự tin chàng có.

6. Bị chì chiết “hãy xem nhà anh…”

Trừ khi bạn không muốn bước vào cuộc sống của gia đình ấy, nếu không hãy chấp nhận mọi điều từ gia đình chàng.

7. Bị đeo bám

Nam và nữ có cấu trúc não bộ không giống nhau. Tình cảm của phái nữ gắn liền với khu ngôn ngữ còn ở nam giới, trung khu tình cảm hoàn toàn tách biệt với khu ngôn ngữ. Điều này giải thích tại sao nữ giới có thể dễ dàng biểu đạt cảm xúc, ngược lại nam giới dù yêu cũng khó diễn tả bằng lời.

8. Sợ người quá coi trọng tình cảm

Trên thực tế, phần lớn nam giới coi tình yêu là một đoạn trong bản nhạc cuộc đời, là một trong những việc cần làm trong cuộc sống. Cũng có nam giới coi tình yêu là việc quan trọng nhất của cuộc đời nhưng số này thường bị xem là người quá sướt mướt.

Hạnh Phúc
Theo EC

Bí quyết của bà vợ khôn

Chọn được người ý hợp, tâm đồng lấy làm chồng đã khó, nhưng giữ được chồng còn khó hơn. Vì sao để mất và bằng cách nào để giữ? Phiếm đàm sau đây có thể giúp ích chị em chăng. Xin bắt đầu bằng chuyện...
 

1. Một phụ nữ hơn 30 tuổi, mới một con, vậy mà chồng chị vốn xưa nay đứng đắn, bỗng nổi “máu dê” đi lòng thòng “bồ bịch”. Chị nghiến răng chịu đựng, ngày đêm khuyên giải mà chồng không nghe. Uất quá chị quyết định tự tử. Tự tử bằng súng. Chỉ bắn một phát là chết. Mà phải chết ngay cho khỏi quằn quại đau đớn... Chị nghĩ thế và tìm đến một “văn phòng tư vấn”.

Sau khi nghe chị trình bày, ngài chuyên gia tư vấn khuyên: “Nếu vậy cần phải bắn vào tim”. “Nhưng bằng cách nào để biết vị trí của tim?”. “Thế này nhé. Chị lấy núm vú bên trái làm chuẩn, cách 2cm về phía trên là tim”. Cám ơn về lời khuyên vàng ngọc ấy, chiều đó, sau khi viết “chúc thư” dặn dò con, cùng những lời cảnh cáo gã chồng bội bạc, chị thực hiện ngay. Súng nổ “bùm”. Chị không chết. Bởi viên đạn không xuyên qua tim mà lại thủng ruột già.

Vết thương lành, chị đến cự nự ngài chuyên gia tư vấn yêu cầu trả lại tiền. Vì động tới tài chính nên buộc phải có “trọng tài”. Biên bản kết luận của “trọng tài” ghi rõ: “Hướng dẫn của chuyên gia tư vấn không sai. Sở dĩ đạn không trúng tim vì từ lâu chị không chịu chăm sóc đến cơ thể, nên ngực chảy xuống gần tới rốn. Đạn xuyên thủng ruột già là vì thế”. Vậy là rõ.

Kết luận trên còn có tác dụng giải thích nguyên nhân “cái anh chồng” vốn đứng đắn bỗng dưng đổ đốn là vì vợ người ta “gái một con trông mòn con mắt”, nhưng vợ anh thì “mới một con mà muốn dắt đem... cho” bởi lôi thôi quá, nhếch nhác, tã tượi quá. Chẳng biết sau cái vụ tự tử không chết này, chị có rút ra được bài học rằng: Muốn giữ chồng thì trước hết phải biết giữ gìn, chăm sóc cho nhan sắc của mình, để chồng mình ngắm đã, rồi thiên hạ ai muốn ngắm là việc của họ.

Khốn nỗi chị em chúng ta thường mắc phải sai lầm rất nghiêm trọng: Chưng diện cốt để thiên hạ ngắm chứ không phải để cho chồng mình ngắm. Vì thế mỗi khi bước ra khỏi cửa là thướt tha váy ngắn váy dài, vẽ mắt, tô môi, nước hoa thơm ngát, nói cười vui vẻ. Nhưng ở nhà thì tóc không chải, đầu rối bù; áo quần không là, nhầu nhĩ, ngực chảy quả mướp; nói năng thì bẳn gắt; “đá thúng đụng nia”, “chửi gà mắng chó”... Bởi vậy dưới con mắt các ông chồng, vợ mình luôn là mẹ sề, là cái radio bóng già, loa rè, mở suốt 24/24 giờ, chỉ có mở, không có tắt... Trong khi ra đường nhìn vợ người khác thì cô nào cũng xinh đẹp. Từ đó mới chán, mới đổ đốn sinh hư đi tìm “của lạ”.

2. Có nhiều người khéo chiều chồng lắm. Sáng bao giờ cũng dậy rất sớm, quét dọn nhà cửa, lau chùi ấm chén... lo toan mọi việc xong, tắm gội thật sạch sẽ... Anh chồng còn đang mơ màng trên giường bỗng thấy một bàn tay mát rượi đặt lên trán, cùng giọng nói nhẹ nhàng âu yếm: “Anh ơi, đã 6 giờ, dậy thôi anh. Anh dậy tập thể dục, tắm cho mát, dùng điểm tâm xong, đi làm kẻo trễ!”.

Anh chồng mở mắt nhìn, rõ ràng vợ mình đấy mà sao đẹp thế, gương mặt tươi vui rạng rỡ, suối tóc đen mun vừa gội, vồng ngực nõn nà, đôi tay thon thả, giọng nói, chao ôi dễ thương làm sao. Anh cảm thấy tột cùng hạnh phúc, thấy vợ mình đẹp nhất thiên hạ, tốt nhất thiên hạ. Ra đường gặp bất kỳ “đối tượng” nào, anh ta đều cho rằng thua kém vợ mình tuốt luốt.

Có được người vợ biết chăm sóc nhan sắc để chồng ngắm như thế, khéo chiều chồng như thế, thì chỉ những gã đàn ông nào mắc “bệnh tâm thần” mới bỏ “của quý” ở nhà đi tìm “của lạ” để rồi biết đâu tự chuốc lấy “si-da”, “ết” vào thân.

Nói thế chứ đời phức tạp lắm. Vẫn không ít những gã đàn ông mắc “bệnh tâm thần” kiểu ấy. Nếu gặp trường hợp đó, cụ thể là nếu phát hiện chồng mình có “bồ nhí” thì xử lý thế nào? Tôi xin phiếm đàm vài chuyện nữa hầu chị em.

Ông anh họ tôi đang làm giám đốc công ty bỗng được đề bạt một phát lên giữ chức Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch một bộ lớn. Thời bao cấp, cái ghế chuyên ban phát ân sủng đầy bổng lộc ấy nhiều người thèm lắm. Bởi thế không ít kẻ kèn cựa, muốn “hạ bệ” anh để “chiếm”.

Anh tôi vốn đẹp trai, nói chuyện rất có duyên nên nhiều người, nhất là “phái đẹp” yêu mến. Anh tôi lại đa cảm, hay “thương người”. “Gót chân A-sin” của anh là chỗ ấy và mấy tay kèn cựa lợi dụng ngay.

Họ bố trí một cô nhân viên khá xinh luôn cặp kè, đôi khi tỏ ra ân cần chăm sóc anh “hơi quá mức cần thiết” một tý. Thế rồi những lời ong tiếng ve được tung ra, có cánh nên bay thẳng đến tai chị tôi. Vốn sẵn “máu Hoạn Thư” trong huyết quản, mới nghe phong thanh thôi mà chị đã đùng đùng nổi “cơn tam bành”.

Chị phóng đến cơ quan anh tôi, xông vào phòng tất cả các đồng chí lãnh đạo tố cáo chồng, lăng mạ chồng, kể tội, lên án chồng... Cứ như chị nói thì anh tôi chỉ là một gã bỉ ổi, đê tiện. Chị đề nghị cơ quan phải kiểm điểm, kỷ luật, cách chức anh ta, bắt anh ta đi lao động để giáo dục, cải tạo. Chị săn tìm cái cô mà chị nghi đã “cặp bồ” với chồng chị để “phanh thây xé xác ra làm trăm mảnh”.

Chị làm náo loạn cơ quan, bất chấp tất cả nhằm bêu xấu, hạ nhục chồng. Chưa hả, chị còn về quê anh, cả quê chị nữa rêu rao nói xấu chồng. Kết quả bọn cơ hội lợi dụng thổi phồng lên, quan trọng hoá lên tạo sức ép buộc tổ chức phải xử lý kỷ luật “hạ bệ” anh tôi mất chức vụ phó. Danh dự và quan hệ giữa anh với chị bị tổn thương quá nặng không cách gì hàn gắn, buộc anh tôi phải chia tay với chị. Bây giờ anh đeo bên mình nỗi buồn, nỗi hận, chị thân tàn ma dại bởi hối hận về sự mù quáng của mình thì đã muộn, đã mất tất cả...

Bạn tôi gốc Sài Gòn chính hiệu, làm Tổng giám đốc một công ty lớn. con người đa tài, cốt cách rất “anh Hai”. Đa tình nên cũng có tý chút “lòng thòng” với một cô nhân viên văn phòng. Ở đời ai nhiều thành công thường bị nhiều kẻ ghen ghét. Bạn tôi cũng thế, một cấp phó và hai trưởng phòng của anh thuộc loại ấy. Không moi được gì xấu ở anh, họ khoét vào chuyện “bồ nhí”. Nham hiểm, họ khôn khéo “cung cấp thông tin” cho vợ anh biết, nhằm dùng chính vợ anh “tiêu diệt” anh.

Thứ bảy tuần đó, vợ anh từ Lái Thiêu lên. Bọn xấu thông báo cho nhau biết để cùng theo dõi tấn bi kịch “ghen tuông” sẽ diễn ra thế nào mà kích động và lợi dụng vào mục tiêu đã định. Còn bạn tôi thì nơm nớp lo. Chị Thu, vợ anh tối đó cho mời cô nhân viên kia đến. Tất nhiên cô nhân viên hoảng.

Cô chỉ yên tâm khi thấy chị Thu vẫn vui vẻ tươi cười. Chị bảo: “Mai chủ nhật, chị muốn làm bữa nhậu mời bạn bè đồng sự của anh đến chơi, cô giúp chị được không?”. Thục (tên cô gái)  thở phào, như mở cờ trong bụng, cô hăng hái nhận đi chợ mua thực phẩm, bàn nên làm món này, món nọ...

Trưa hôm sau bữa nhậu diễn ra rất vui. Tất nhiên mấy vị “đồng nghiệp xấu chơi” cũng được mời và họ vẫn chờ đợi tấn bi kịch đánh ghen sẽ xảy ra để làm ầm ĩ lên. Khi phòng ngoài khách khứa vui cười xả láng, thì ở phòng trong chị Thu gọi Thục lại gần.

Giọng thân tình, chị nói: “Tuy ở xa nhưng mọi việc trên này chị biết cả. Chị cám ơn em, vì xa chị anh được em chăm sóc chu đáo. Em yêu quý anh, điều đó cũng dễ hiểu. Bởi anh đẹp giai, có tài, biết lo việc làm cho hàng nghìn cán bộ nhân viên, lo nộp ngân sách nhà nước đầy đủ. Em yêu anh, chị không trách. Nếu em vào hùa với những người xấu gài bẫy hại anh chị mới trách.

Nhưng em ạ, anh chị sống với nhau đã có hai mặt con, bỏ nhau đâu có dễ. Bởi thế, từ nay em vẫn chăm sóc anh chu đáo như trước, nhưng còn cái đoạn “tình tang lòng thòng” với anh thì phải cắt ngay. Nếu không em đừng trách chị ác. Chịu không em?”.

“Dạ, em xin nghe chị”. Hai người móc tay nhau tỏ lòng thân thiện và cũng thay cho lời hứa, rồi ra phòng ngoài vui vẻ tiếp mọi người.

Chị Thu đã xử sự như thế, giữ được chồng, giữ thể diện, chức vụ cho chồng, giữ hạnh phúc gia đình, khiến những người xấu không lợi dụng kích động được, khiến “bồ nhí” của chồng phải “tâm phục, khẩu phục” mà thực hiện cam kết, khiến chồng phải nể sợ và tất nhiên nhận ra mình “công ít, tội nhiều” mà liệu đường ăn ở với vợ cho phải đạo.

Hai  trường hợp như trên, miễn bình luận, chắc chị em cũng rút ra được vì sao “mất chồng” và “bí quyết giữ chồng”. Phiếm đàm vậy, có điều gì không phải xin chị em rộng lòng lượng thứ.

Theo Đ. Trung
Gia đình & xã hội

Bí mật của gia đình hạnh phúc

(Dân trí) - Một gia đình hạnh phúc có những cách giải quyết như thế nào để hài hòa được những đòi hỏi trong công việc và đời sống gia đình?
 

1. Không phân chia nhau việc vặt

Trong một phần của nghiên cứu, Giáo sư Kremer-Sadlik và các đồng nghiệp của mình tại trung tâm UCLA đã tìm hiểu sự liên quan giữa phân công việc nhà và sự hài lòng trong hôn nhân.

Kết quả đáng ngạc nhiên là vợ chồng hạnh phúc hơn khi họ cảm thấy mình đang làm việc hướng tới những mục tiêu giống nhau, không quan trọng ai làm nhiều hơn (thực tế là phụ nữ là người làm việc nhà nhiều hơn). Những người phụ nữ trong những cuộc hôn nhân hạnh phúc nói với các chuyên gia rằng chồng của họ dường như rất hiểu biết những gì cần phải làm để giúp đỡ vợ, như dọn bàn trong khi vợ đang nấu ăn, sắp xếp bát đũa vào bồn khi đã dùng xong bữa.

Đối với họ quan điểm về việc nhà luôn rõ ràng: “Tôi làm những công việc đó vì gia đình của tôi”, chứ không phải là “làm hộ vợ/chồng”. Như một tất yếu, các ông chồng trong các gia đình hạnh phúc tham gia làm việc nhà nhiều hơn những gia đình khác.

2. Tìm thấy niềm vui bên nhau trong từng khoảnh khắc

Những bà mẹ hạnh phúc nhận thấy rằng thời gian thực sự để kết nối tình cảm gia đình nằm ở những sự việc nhỏ diễn ra hàng ngày. Đó có thể là lúc bạn ngồi tết tóc cho cô con gái yêu, là lúc cùng chồng làm vườn, là lúc ngồi cùng con trai xem một bộ phim.

Nhưng đáng tiếc nhiều gia đình bỏ qua những cơ hội để có thể kết nối tình cảm với nhau. Một ví dụ là cách các thành viên trong các gia đình phản ứng khi ông bố đi làm về: Ở một gia đình, vợ và các con chào bố bằng những câu chào, những cử chỉ ấm cúng, một gia đình khác các con chào bố trong khi mắt không rời được trò video games còn bà vợ hỏi chồng: “Anh đi đâu giờ này mới về?”.

3. Cha mẹ làm gương, không ra lệnh

Trong một gia đình hạnh phúc, cha mẹ và con cái dường như không có nhiều căng thẳng trong việc con cái phải hoàn thành những mục tiêu do cha mẹ đặt ra. Những công việc nhỏ trong một ngày như dọn bữa ăn tối, hoàn thành bài tập về nhà…diễn ra nhẹ nhàng, vui vẻ. Đương nhiên cha mẹ vẫn là chủ trong gia đình nhưng họ không phải là người chỉ huy.

4. Cùng nhau nấu bữa tối

Khi các bà mẹ được trợ giúp, họ có xu hướng chuẩn bị chu đáo hơn cho các bữa ăn phụ hoặc khẩu phần ăn riêng cho con nhỏ. Các em bé sẽ ăn các món ăn bày trên bàn một cách thích thú hơn nếu được tham gia vào quá trình chuẩn bị bữa ăn. Và tâm trạng của mọi người trong nhà vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn khi trẻ tham gia vào công việc nấu ăn trong nhà bếp.

5. Các bà mẹ luôn dành 5-10 phút cho mình mỗi ngày

Các bà mẹ có thể thư giãn bằng việc tập thể dục, làm vườn hoặc tự mình nhấm nháp một thanh kẹo. Điều đó thực sự tốt cho sức khỏe của họ và cả gia đình.

6. Cùng xem TV

Những gia đình dành thời gian xem TV cùng nhau tạo ra rất nhiều mối ràng buộc tích cực. Ngồi cùng nhau khiến cả nhà gần gũi hơn, các con của bạn có thể chia nhau gói bim bim, cập nhật cho nhau những kiến thức hàng ngày. Khi cả gia đình cùng cười bởi một chương trình nào đó, đó là kỉ niệm, đó là hạnh phúc.

7. Duy trì những thói quen thường xuyên

Những thói quen thường xuyên là tiền đề cho mối quan hệ gia đình phát triển. Chẳng hạn vợ chồng ngồi uống với nhau một tách cà phê khi kết thúc ngày làm việc, hay cha mẹ dành ra vài phút vào buổi tối để đọc truyện cho con nghe - đó là những giây phút thoải mái nhất.

Lan Tường
Theo Redbook

Trò chuyện với nhà báo Mỹ huyền thoại về chiến tranh VN

Trong 13 năm đưa tin chiến tranh ở Việt Nam, Peter Arnett đã cung cấp cho độc giả Mỹ một khối lượng thông tin đồ sộ, với khoảng ba ngàn rưởi bài viết.
Gõ vào google để tìm các tư liệu về Chiến tranh Việt Nam, người ta hay bắt gặp cái tên Peter Arnett. Bất kể đó là các bài phỏng vấn, bài viết, ký sự truyền hình, hay những bộ phim tài liệu dài tập. Đơn giản bởi vì ông là phóng viên đã theo dõi cuộc chiến này gần như từ đầu đến cuối, kể từ trận Ấp Bắc vào đầu năm 1963 cho đến khi chiếc xe tăng của Quân giải phóng húc đổ Dinh Độc Lập vào ngày 30.4.1975.
Trong 13 năm đưa tin chiến tranh ở Việt Nam, Peter Arnett đã cung cấp cho độc giả Mỹ một khối lượng thông tin đồ sộ, với khoảng ba ngàn rưởi bài viết. Đó là chưa kể gần 20 năm sau khi kết thúc cuộc chiến, ông đã cho ra cuốn hồi ký chiến tranh nhan đề "Từ chiến trường khốc liệt". Ở Việt Nam, nhiều phóng viên cũng đã phỏng vấn ông.
Trong chiến tranh Iraq, ông đã gây chấn động thế giới bởi những phóng sự được truyền hình trực tiếp trên kênh CNN từ chiến trường Baghdad. Đồng thời ông cũng là phóng viên phương Tây đầu tiên và duy nhất phỏng vấn trùm khủng bố Osama Bin Laden.
Với hơn 57 giải thưởng báo chí quốc tế, Peter Arnett được xem như một "huyền thoại sống" của báo chí thế giới.
Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện của phóng viên Huỳnh Phan với Peter Arnett, diễn ra cách đây một năm, trong chuyến đi thăm lại địa đạo Củ Chi của nhóm cựu phóng viên chiến trường quốc tế vào dịp kỷ niệm 35 năm ngày chiến tranh kết thúc ở Việt Nam.
Trong cuộc trò chuyện này, phóng viên Huỳnh Phan không hy vọng có thể đưa ra những phát hiện mới mẻ, kiểu như "chuyện bây giờ mới kể". Tác giả chỉ hỏi những điều mình quan tâm, với giả định rằng có một số độc giả, nhất là các độc giả trẻ, cùng có mối quan tâm như mình. Và sự quan tâm của tác giả không chỉ dừng lại ở câu chuyện lịch sử, mà cả chuyện nghề, chuyện người.
Cựu phóng viên chiến trường Peter Arnett (bên phải). Ảnh: AP
Viết đúng sự thật mới trở thành nhà báo lớn
Peter Arnett nói: Điều tôi muốn nói với anh, và các phóng viên trẻ khác, là chỉ viết đúng sự thật mới giúp anh trở thành một nhà báo lớn. Mặc dù, để làm được điều đó anh luôn phải chấp nhận những thách thức cực kỳ lớn, nhất là từ phía những người quyết định chủ trương, chính sách.
Nhiều bài báo của tôi đã thách thức những chính sách và chiến thuật của Mỹ áp dụng ở Việt Nam.
Ông có thể đưa ra vài dẫn chứng cụ thể được không?
Peter Arnett: Câu chuyện thứ nhất là vào mùa hè năm 1965. Theo tìm hiểu của chúng tôi, cố vấn Mỹ đã huấn luyện cho binh sĩ Sài Gòn sử dụng hơi ngạt (riot control gas) để đối phó với Việt Cộng ở các địa đạo.
Như anh thấy đấy, khi hơi ngạt được sử dụng trên đường phố để khống chế các cuộc biểu tình, những người biểu tình có thể bị choáng, nhưng họ vẫn có thể thở và lập tức chạy khỏi chỗ đó. Thế nhưng, khi ném xuống địa đạo, nó sẽ gây chết người. Ở dưới địa đạo, như chúng ta đều biết, có rất nhiều phụ nữ và trẻ em xuống đó để tránh bom, tránh đạn pháo.
Chúng tôi đã viết câu chuyện đó. Bài báo lập tức gây ra tranh cãi lớn. Chính quyền Mỹ biện hộ rằng điều đó không có gì sai trái cả, và thực sự hơi ngạt vẫn chưa được sử dụng trên thực tế. Nhưng chúng tôi có ảnh chụp chứng minh họ đã sử dụng. Sau đó, hơi ngạt đã bị cấm.
Câu chuyện thứ hai liên quan đến napalm. Chúng tôi viết nhiều bài chống lại việc sử dụng napalm, và sử dụng những bức ảnh chụp nạn nhân của napalm. Ấn tượng nhất là bức ảnh của Nick Út về cô bé Kim Phúc đang bị cháy. Sau đó, napalm cũng bị cấm sử dụng.
Trong 13 năm tường thuật về cuộc chiến ở Việt Nam, chắc hẳn ông đã chứng kiến rất nhiều trận giao tranh giữa hai phía. Có trận đánh nào khiến ông không thể nào quên được không?
Đó là trận đánh vào ngày 21.11.1967, diễn ra ở thung lũng Đắk Tô. Tôi và một phóng viên ảnh của UPI đi theo ba tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Không vận 173, nhận nhiệm vụ giải cứu cho 350 binh sĩ Mỹ đang bị bao vây ở ngọn đồi 875.
Trận đánh ác liệt đã kéo dài hai ngày, trước khi đối phương quyết định rút khỏi trận địa. Còn tôi đã chứng kiến trong suốt thời gian đó thế nào là bom rơi đạn nổ. Rồi sau đó, tôi đã leo lên trực thăng để viết và gửi bài.
Tôi đã viết về sự dũng cảm của binh lính Mỹ và kỹ năng chiến đấu của bộ đội Bắc Việt, và sự ngoan cường của họ để đứng vững trước những trận bom do Mỹ bỏ xuống. Ý nghĩa của bài viết nằm ở chỗ cả hai bên đều quyết tâm sống mái trên một ngọn đồi nhỏ, chẳng hề quan trọng về vị trí quân sự, với 500 binh sĩ của cả hai phía bị thiệt mạng.
Từ lúc đó, tôi đã bắt đầu suy nghĩ và tìm cách lý giải về ý nghĩa của cuộc chiến tranh hao người tốn của này.
Cuộc chiến tranh vô nghĩa và sự nhận thức muộn màng
Và ông đã lý giải thế nào?
- Quan điểm của phía Việt Nam là họ tiến hành cuộc chiến tranh này để thống nhất đất nước. Còn phía Mỹ lại nói rằng họ chiến đấu để bảo vệ nền độc lập ở miền Nam Việt Nam - một điều có ý nghĩa sống còn.
Nhưng tôi lại nghĩ, vậy chính thể Việt Nam Cộng Hoà là gì? Họ có đủ mạnh để tự đứng vững hay không? Bởi, sau đó ít năm, chính Tổng Thống Nixon đã không còn muốn điều đó nữa, và quyết định từ bỏ miền Nam Việt Nam.
Peter Arnett trở lại chiến trường xưa.
Tôi nghĩ trận đánh ở Đắk Tô đã giúp khắc hoạ một điều rằng cuộc chiến đẫm máu này đã mang lại tổn thất quá lớn cho cả hai bên, và đưa người Mỹ vào ngõ cụt. Trên thực tế, việc người Mỹ không thắng nổi cuộc chiến này cũng có nghĩa là phía Bắc Việt Nam chiến thắng. Họ chỉ cần trụ vững, còn người Mỹ phải "go home".
Đến thời điểm nào thì ông đi đến kết luận rằng người Mỹ không thể thắng cuộc chiến này?
- Tôi đã linh cảm điều này ngay từ năm 1965, khi đi theo một đơn vị lính thuỷ đánh bộ Mỹ vào rừng truy tầm Việt Cộng. Những người Việt Cộng thông thuộc địa hình đã khiến cho lính Mỹ gặp rất nhiều khó khăn, và số thương vong về phía Mỹ là không nhỏ. Lúc đó, tôi đã cho rằng những người chiến đấu trên chính mảnh đất của họ rất khó bị đánh bại.
Đến cuối năm 1967, linh cảm này của tôi ngày càng được thực tế chứng minh, khi đưa tin về hàng loạt cuộc giao tranh giữa lính Mỹ và Việt Cộng, được hỗ trợ bởi bộ đội Bắc Việt. Người Việt Nam không cần thắng cuộc chiến này, họ chỉ cần giữ để không thua là đủ.
Trong lúc đó, sự bất đồng trong dư luận Mỹ ngày càng tăng, tương ứng với số thương vong ngày càng tăng của binh lính Mỹ, sự tốn kém chồng chất về tài chính, cũng như sự chống đối ngày càng gia tăng trong nội bộ chính phủ Mỹ.
Tất cả những thứ đó chính là sự giới hạn về thời gian cho sự hiện diện của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Và giới hạn thời gian này đã tới vào năm 1968, khi xảy ra cuộc Tổng Tấn công Mậu Thân (1968).
Ai cũng ngỡ ngàng, kể cả Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ, khi bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng tấn công hơn 40 thành phố và căn cứ quân sự, gây ra một con số thương vong rất lớn cho quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn. Mặc dù, trong hai tháng diễn ra sự kiện này, số lượng thương vong của họ cũng rất lớn.
Dư luận Mỹ đến lúc đó đã hoàn toàn tin rằng Mỹ không thể thắng trong cuộc chiến này, và, như vậy, không có lý do gì mà tiếp tục nó. Tổng thống Nixon đã thắng cử với chính sách hoà bình ở Việt Nam, và kế hoạch rút dần quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam. Đơn vị quân đội Mỹ đầu tiên rút khỏi Việt Nam là vào năm 1969.
Kể từ cuộc Tổng Tấn công Mậu Thân, tôi chỉ còn chờ xem cuộc chiến sẽ kết thúc lúc nào, và theo cách nào mà thôi.
Bìa cuốn sách của Peter Arnett
Thế còn cái bắt tay lịch sử ở Thượng Hải giữa Tổng Thống Nixon và Chủ Tịch Mao Trạch Đông được đánh giá thế nào?
Thêm một sự khẳng định chắc chắn rằng Việt Nam đã chiến đấu với tinh thần dân tộc, vì chủ quyền lãnh thổ của mình. Chứ hoàn toàn không phải dưới ngọn cờ của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, do Liên Xô đứng đầu.
Trước đó, người Mỹ cho rằng họ can thiệp để bảo vệ nền độc lập của miền Nam Việt Nam, và ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ra toàn châu Á. Thế nhưng, trong khi cuộc chiến đang diễn ra tại chiến trường Việt Nam, hai cường quốc đứng đầu phong trào cộng sản quốc tế là Liên Xô và Trung Quốc lại mâu thuẫn với nhau, thậm chí còn xung đột lớn với nhau nữa.
Vì vậy, vào năm 1972, khi Chủ tịch Mao Trạch Đông đưa tay ra bắt Tổng Thống Nixon, người Mỹ đã khẳng định chắc chắn rằng mối nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa xuống khu vực Đông Nam Á đã hoàn toàn bị loại trừ.
Đó là quan điểm ngự trị ở nước Mỹ lúc đó?
Không. Phần đông cảm thấy mệt mỏi với cuộc chiến, với sự thất bại về quân sự và tình trạng thương vong ngày càng lớn.
Căn bệnh tham nhũng và sự suy giảm khả năng phòng thủ
Khi đưa tin về cuộc chiến ở Việt Nam, ông chỉ tường thuật những trận đánh có sự tham gia của lính Mỹ?
Không hẳn là như vậy. Chẳng hạn trận đánh lớn đầu tiên mà tôi tường thuật là trận Ấp Bắc, diễn ra vào đầu năm 1963, giữa quân đội Sài Gòn và Việt Cộng. Sự tham gia của người Mỹ chỉ với vai trò cố vấn.
Trong trận đánh diễn ra ở ngôi làng nhỏ cách Sài Gòn 60 cây số về phía Nam này, hai tiểu đoàn quân đội Sài Gòn lần đầu tiên vấp phải sự kháng cự mãnh liệt từ phía Việt Cộng. Trước đó, thường thì sau vài loạt đạn bắn trả, Việt Cộng rút luôn để bảo toàn lực lượng.
Việt Cộng đã nấp dưới các giao thông hào bắn trả dữ dội, bắn rơi 2 trực thăng, và giết nhiều binh sĩ Sài Gòn đang xông lên. Binh lính Sài Gòn đã phải rút chạy. Lần đầu tiên, người ta chứng kiến Việt Cộng với chiến thuật chiến tranh du kích đã đẩy lui quân đội Sài Gòn với lực lượng áp đảo.
Khi trả lời phỏng vấn chúng tôi, gồm AP, UPI và New York Times, Trung tá cố vấn John Paul Vann đã chê bai khả năng chiến đấu của lính Sài Gòn, cũng như sự thiếu quả cảm của họ trong việc xông lên tiêu diệt đối phương. Những lời ông nói đã được chúng tôi trích dẫn đầy đủ trong các bài tường thuật của mình.
Lúc đó là những ngày đầu năm mới ở Mỹ, nên các bài viết, đồng loạt xuất hiện trên trang nhất các tờ báo lớn với những cái tít lớn, đã có tác động lớn đến dư luận ở Mỹ. Trung Tá Vann, đã bị triệu hồi về Mỹ để giải trình, và sau đó ít tháng bị buộc phải xin giải ngũ.
Các cố vấn Mỹ, kể từ đó, đã rút ra bài học là phải huấn luyện binh lính Sài gòn luôn lao lên phía trước. Nhưng cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, không thể nói là họ đã thành công.
Khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam, lính Mỹ thường được giao nhiệm vụ tham gia các trận đánh lớn. Còn lính Sài Gòn chủ yếu làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh ở các địa phương.
Theo ông, liệu có phải khả năng chiến đấu yếu kém của quân lực Việt Nam Cộng Hoà là một trong những nguyên nhân khiến Mỹ quyết định đổ quân vào Việt Nam?
Sang năm 1964, quân đội Bắc Việt đã vào miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, cũng như theo đường thuỷ đến cảng Sihanoukville ở Campuchia, trước khi vượt biên giới vào Nam Bộ để phối hợp với Việt Cộng tấn công quân đội Sài Gòn.
Quân đội Sài Gòn, mới được thành lập vào giai đoạn 1957-1958, chưa hề được thử thách. Họ không đủ sức chống lại những người lính được huấn luyện rất bài bản, dưới sự chỉ huy của nhưng vị chỉ huy giỏi được điều từ miền Bắc vào. Việt Cộng cũng nhờ chiến đầu bên cạnh họ mà ngày càng dày dạn kỹ năng tác chiến.
Hơn thế nữa, cùng với giới lãnh đạo ở Sài Gòn, mấy đời tổng thống Mỹ, từ Eisenhower, Kennedy, Johnson đến Nixon, đều đã thất bại trong việc xây dựng ở miền Nam Việt Nam một chủ nghĩa dân tộc - yếu tố quan trọng trong việc xây dựng tinh thần và khả năng phòng thủ quốc gia.
Cho nên, mặc dù sau này, Mỹ đã đào tạo được những chỉ huy giỏi, chất lượng của binh lính và sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nói chung vẫn không đủ đáp ứng được đòi hỏi của cuộc chiến với quân đội Bắc Việt và Việt Cộng.
Nhưng nguy hiểm nhất là kể từ khi Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi tổng thống, ông ta đã sử dụng nhiều viên tướng tham nhũng. Đó là một nguyên nhân quan trọng làm suy giảm sức chiến đấu của quân đội Sài Gòn.
Xin ông giả thích rõ hơn.
Để tránh các cuộc đảo chính quân sự, như đã diễn ra trước đó, ông Thiệu chỉ chọn những người giỏi làm chính trị, chứ không giỏi cầm quân.
Nhưng những người này lại giỏi hơn về khả năng tham nhũng. Họ ăn bớt cả tiền lương của binh sĩ. Đó là điều mà người Mỹ biết, không thể thay đổi, mặc dù rất muốn.
Buồn thay, cho tới giờ này người Mỹ vẫn không thoát được "cái dớp" đó. Tổng thống Kazai của Afganistan và em trai của ông ta là những kẻ tham nhũng có hạng. Ngoài khoản ngân sách chi tiêu quân đội, họ còn biển thủ cả tiền cứu trợ dành cho dân thường.
Trong khi đó Taliban là một hình ảnh ngược lại. Những người theo đạo Hồi này không cần tiền để mua rượu, hay để mở tài khoản ngân hàng ở Thuỵ Sĩ. Họ chiến đấu vì niềm vinh quang của họ, vì tôn giáo của họ. Chính vì vậy, Taliban là một đối thủ rất khó nhằn.
Tôi luôn cho rằng tham nhũng là nguyên nhân chính khiến cho sức chiến đấu của quân đội và khả năng phòng thủ quốc gia bị suy giảm.
Ở Trung Quốc, nơi tôi đang sống, họ chống tham nhũng rất kiên quyết. Mới tuần thôi, họ đã bắt một thứ trưởng tài chính - kẻ đã biển thủ hàng triệu USD. Sức mạnh kinh tế và quân sự của họ nhờ thế mà được củng cố và phát triển rất mạnh.
Tại sao người Mỹ lại thất bại trong việc xây dựng ở miền Nam Việt Nam một chủ nghĩa dân tộc, mà ông coi là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng tinh thần và khả năng phòng thủ quốc gia?
Để trả lời câu hỏi này, có lẽ cần phải phân tích bối cảnh lịch sử ở miền Nam kể từ sau Hiệp định Geneva (1954).
Chủ trương thống nhất đất nước của Việt Minh đã được thể hiện mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Thế nhưng, cuộc tổng tuyển cử không thể diễn ra do sự can thiệp của người Mỹ. Cơ hội thống nhất đất nước vào năm 1955 đã bị bỏ qua, và đó là tiền đề cho một cuộc chiến tranh mới, với mọi xung lượng đều ở phía những người cộng sản.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhiều người ở miền Nam đã ủng hộ Việt Minh và Chính phủ Hồ Chí Minh. Vì vậy, trong cuộc chiến tranh mới, họ đã tiếp tục hợp tác với Việt Cộng.
Trong khi đó, khống ít những người khác lại vẫn nhớ người Pháp. Và, do đó, tuy người Mỹ đã hiện diện ở miền Nam, vẫn không có nhiều người Việt nói được tiếng Anh.
Mãi đến năm 1972, người Mỹ đã huấn luyện được những sĩ quan người Việt trẻ trung và giỏi giang tại Học viện Quốc phòng West Point. Tuy nhiên, lúc đó Mỹ đã chuẩn bị rút quân khỏi Việt Nam, và sự trở về của họ đã quá muộn màng.

Khả năng sáng tạo của người Việt

Người Việt có lẽ rất thông minh và sáng tạo ở mức độ cá nhân, nhưng ở mức độ tập thể khả năng sáng tạo của ta thì cực kì thấp lè tè.
Thông minh nhưng... thua xa các nước
Người Việt chúng ta - nói theo báo chí - là nổi tiếng thông minh và sáng tạo. Cứ nhìn qua những sáng chế của giới "Hai Lúa" cũng thấy sức sáng tạo của người mình không đến nổi tệ. Thế nhưng đo lường bằng những chỉ số khách quan thì chúng ta còn thua xa so với các nước trong vùng.
Năng suất khoa học của một quốc gia có thể đo bằng 2 chỉ số chính: Số lượng bài báo khoa học và số bằng sáng chế. Số lượng bài báo khoa học công bố trên các tập san khoa học trong danh mục của Viện Thông tin khoa học (ISI) có lẽ là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá năng suất của nghiên cứu khoa học.
Trong quá khứ và hiện nay, các trung tâm nghiên cứu khoa học vẫn dùng chỉ tiêu đó để định vị một nước trong bản đồ khoa học quốc tế. Chỉ tiêu thứ hai cũng rất quan trọng là số bằng sáng chế (patent). Bằng sáng chế cũng chính là một hình thức chuyển giao công nghệ. Bằng sáng chế có thể đăng kí trong và ngoài nước.
...Gần hơn 1/5 tổng trị giá xuất khẩu hi-tech của Việt Nam là khoáng sản, và 41% là hàng công nghiệp (chủ yếu là gia công, dệt may). Trong khi đó, ngành xuất khẩu chủ đạo của Thái Lan là máy móc và thiết bị (chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu) và hàng công nghiệp (24%). Singapore cũng có xu hướng giống với Thái Lan.
Những dữ liệu trên đây một lần nữa xác định năng suất khoa học của nước ta còn quá thấp so với các nước trong vùng. Năng lực sáng tạo và chuyển giao công nghệ phản ảnh qua số bằng sáng chế cũng còn quá thấp, thấp đến độ không đáng kể.
Ở nước ngoài, rất nhiều (có lẽ đa số) bằng sáng chế được đăng kí ở Mỹ. Do đó, người ta thường dùng số bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ như là một thước đo thứ 2 để đánh giá năng suất khoa học của một nước.
Trong thời gian qua, tôi và 1 số bạn khác đã phân tích số lượng và chất lượng bài báo khoa học. Kết quả cho thấy năng suất khoa học nước ta còn rất thấp so với các nước trong vùng, nhưng có xu hướng tăng đáng kể trong thời gian gần đây.
Trong thời gian 1998-2008, Việt Nam công bố được 5070 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế. Trong cùng thời gian, Thái Lan công bố được 23163 bài, cao hơn Việt Nam 4.5 lần. Số bài báo khoa học của nước ta chỉ bằng 2% của Úc (238,076), 10% so với Singapore (51762), 34% Malaysia (14731), nhưng cao hơn Philippines (4558) và tương đương với Indonesia (5212). Tính chung, năng suất khoa học nước ta thuộc vào nhóm thấp nhất trong vùng.
Mục tiêu công nghiệp hóa 2020: Xa vời
Nhưng chưa ai phân tích số bằng sáng chế từ Việt Nam trong thời gian qua. Nhân đọc báo cáo của UNESCO, tôi có trích ra một số dữ liệu thú vị dưới đây (Biểu đồ). Số liệu của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Có năm (như 2002) chẳng có bằng sáng chế nào.
Trong cùng thời gian, Thái Lan đăng kí được 310 bằng sáng chế, Singapore 3644, cao hơn Việt Nam đến 192 lần! Thật ra, số bằng sáng chế từ Việt Nam cũng thấp hơn Indonesia (85), Philippines (256), và Malaysia (901).
Số bằng sáng chế đăng kí trong thời gian 2000 - 2007 từ các nước trong khối ASEAN. Biểu đồ bên phải là phóng đại biểu độ bên trái cho những nước có tần số quá thấp.
Một chỉ tiêu khác cũng đáng chú ý là số kim ngạch xuất hàng hóa kĩ thuật cao (hi-tech). Theo báo cáo của UNESCO, trong năm 2008, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ "hi tech" trị giá 48.6 tỉ USD. Con số này tuy "ấn tượng", nhưng thật ra chưa bằng 1/3 của Thái Lan (153.6 tỉ USD) và chỉ 16% của Singapore (399.3 tỉ USD). Xuất khẩu hàng hi-tech của Việt Nam vẫn thấp nhất so với các nước trong vùng.
NướcTổng giá trị xuất khẩu 2008 (tỉ USD)Tỉ trọng lĩnh vực kinh tế (%)
Khoảng sảnSản phẩm hóa chấtMáy móc, thiết bịHàng công nghiệpHàng hóa khác
Việt Nam48.620.72.311.541.024.5
Thái Lan153.64.57.944.824.118.7
Malaysia198.817.35.232.322.622.6
Indonesia137.029.45.413.725.326.2
Philippines50.52.42.439.113.043.5
Singapore299.313.87.944.824.118.7
Nhìn qua những con số thống kê trên đây, chúng ta thấy gần hơn 1/5 tổng trị giá xuất khẩu hi-tech của Việt Nam là khoáng sản, và 41% là hàng công nghiệp (chủ yếu là gia công, dệt may). Trong khi đó, ngành xuất khẩu chủ đạo của Thái Lan là máy móc và thiết bị (chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu) và hàng công nghiệp (24%). Singapore cũng có xu hướng giống với Thái Lan.
Những dữ liệu trên đây một lần nữa xác định năng suất khoa học của nước ta còn quá thấp so với các nước trong vùng. Năng lực sáng tạo và chuyển giao công nghệ phản ảnh qua số bằng sáng chế cũng còn quá thấp, thấp đến độ không đáng kể.
Ngoài ra, hàng xuất khẩu hi-tech cũng chẳng là bao (dù phần lớn là do liên doanh với nước ngoài). Năm 2020 được xem là năm nước ta hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa. Nhưng những dữ liệu thực tế trên đây cho thấy mục tiêu đó vẫn còn rất xa vời. Người Việt có lẽ rất thông minh và sáng tạo ở mức độ cá nhân, nhưng ở mức độ tập thể khả năng sáng tạo của ta thì cực kì thấp lè tè.
Bây giờ thì chúng ta chẳng những phải phấn đấu không chỉ nâng cao số và chất lượng công trình nghiên cứu khoa học, mà còn phải tích cực nâng cao việc đăng kí bằng sáng chế. Để đăng kí bằng sáng chế, Việt Nam chẳng những cần phải có đầu tư từ Chính phủ (để giúp các nhà khoa học đăng kí) mà còn cần đến những tổ hợp luật sư chuyên nghiệp có thể giúp cho giới khoa học nâng cao sự hiện diện của mình trên trường quốc tế.

Đại học Việt Nam- vừa đội nón, vừa che ô?

Phải chăng nguyên nhân chính xuất phát từ hệ thống quản lý có quá nhiều bất cập.
Tự chủ ĐH và tính xơ cứng của hệ thống
Cùng với tài chính, quản trị là một lĩnh vực rất quan trọng trong giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống quản trị ĐH Việt Nam, từ cấp nhà nước đến các cơ sở giáo dục ĐH đến nay vẫn còn chưa rõ ràng và thiếu minh bạch. Copy mô hình hệ thống từ thời Liên Xô cũ từ năm 1954 ở miền Bắc, và từ năm 1975 ở miền Nam, nhìn chung hệ thống quản trị ĐH Việt Nam đến nay vẫn không có nhiều thay đổi. Về mặt quản lý Nhà nước, Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm chung.
Trên cơ sở đó, 13 bộ ngành và các địa phương quản lý tập trung các cơ sở giáo dục ĐH, CĐ. Trong tổng số 376 trường đại học cao đẳng (số liệu năm 2009)[1], Bộ GD&ĐT quản lý 54 trường (14,4%). Các bộ, ngành khác quản lý 116 trường (30,8%). UBND các tỉnh, TP là cơ quan chủ quản của 125 trường (33,2%). Có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%).
Trong khi Bộ GD&ĐT là cơ quan duy nhất theo luật pháp được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giáo dục cấp bộ thì việc kiểm tra chấp hành các văn bản đó ở các trường ĐH, CĐ thuộc các bộ, ngành khác và do UBND là cơ quan chủ quản còn rất hạn chế. Có bộ còn ra văn bản chồng chéo lên chức năng quản lý Nhà nước của Bộ GD&ĐT[2].
Thời gian qua, Bộ GD&ĐT đã có một số chủ trương như phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh dựa trên năng lực và cơ sở đề xuất của các trường, đồng thời qui định các trường thực hiện ba công khai[3]... Tuy nhiên, những chủ trương trên hoàn toàn chưa đủ vì tính xơ cứng của hệ thống tồn tại quá lâu. Thực tế cho thấy cơ chế xin-cho vốn không minh bạch vẫn còn tồn tại khá nặng nề và bản thân các trường chưa thoát ra khỏi thói quen trông chờ ỷ lại vào bầu sữa bao cấp.
Có ý kiến cho rằng nếu Nhà nước không quản lý và đưa ra qui định cụ thể ràng buộc các trường thì hệ thống giáo dục ĐH sẽ không kiểm soát được. Lập luận này, trong một chừng mực nào đó là hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, 1 câu hỏi đặt ra là tại sao trong 1 hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam như hiện nay lại tồn tại quá nhiều trường ĐH với chất lượng yếu kém?
Phải chăng nguyên nhân chính xuất phát từ hệ thống quản lý có quá nhiều bất cập. Sự cho phép mở quá nhiều trường ĐH cũng như nâng cấp ào ạt hàng loạt các trường CĐ lên ĐH, cùng với việc thành lập nhiều trường ngoài công lập đã làm chất lượng đào tạo không tương xứng với danh xưng vốn có của một trường ĐH?
Có người lý giải việc cấp phép nâng cấp và mở thêm nhiều trường ĐH mới là nhằm đáp ứng mục tiêu 200 sinh viên/ 1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020 theo Nghị quyết 14/2005. Tuy nhiên, việc này đã dẫn đến hệ lụy chất lượng thấp kém đến nỗi Quốc hội, trong năm 2010 phải thành lập Ủy ban giám sát và ra Nghị quyết về việc thành lập các trường và chất lượng đào tạo ĐH[4].
Song song đó là một hệ thống giáo dục ĐH khá phức tạp với 2 ĐH quốc gia, 3 ĐH vùng, bên dưới là các "trường ĐH thành viên" trực thuộc cũng như hàng loạt các trường ĐH đơn ngành, đa ngành, và trường CĐ do các bộ ngành và các tỉnh quản lý, đã mang đến những lẫn lộn nhất định về tên gọi cũng như tính chính thể của hệ thống[5].
Một vấn đề cần xem xét là 2 ĐH quốc gia thật sự có được quyền tự chủ theo đúng nghĩa hay chưa, tức "tự chủ thực chất" và "tự chủ thủ tục" (Berdahl, 1990) về các mặt như tổ chức quản trị/ quản lý, tài chính, nhân sự, tuyển sinh, học thuật/ chương trình... Ở các ĐH khu vực, tình hình có vẻ gay cấn hơn do các ĐH này trực thuộc Bộ GD&ĐT, mức độ tự chủ chỉ phần nào.
Ảnh minh họa. Nguồn: bmg.edu.vn
Tầng nấc quản lý từ Bộ GD&ĐT xuống ĐH khu vực rồi từ ĐH khu vực xuống các trường ĐH thành viên, càng làm cho việc quản lý ngày càng trở nên phức tạp. Hình tượng ví von "vừa đội nón, vừa che ô" cho thấy sự rối rắm của mô hình ĐH quốc gia và ĐH khu vực vốn cần được các cấp nhà nước nghiên cứu thấu đáo[6].
Bên cạnh các trường ĐH, CĐ, sự hình thành và tồn tại của các viện nghiên cứu độc lập theo mô hình của Liên Xô cũ đã mang đến những tách biệt giữa nghiên cứu và đào tạo. Có ý kiến cho rằng cần xem xét sáp nhập các viện nghiên cứu với các trường ĐH cụ thể bởi bản thân một số viện nghiên cứu có các nét tương đồng hoặc các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, trong bối cảnh của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay, đề xuất này khó khả thi vì những quyết định có tính lịch sử để lại từ thời Liên Xô (cũ).
Hơn nữa, ngay cả bản thân của các ĐH và trường ĐH hàng đầu ở Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm các trường chỉ mới có định hướng nghiên cứu (trên dưới 10% thu nhập từ khoa học công nghệ). Mối quan tâm hiện nay là Nhà nước cần tạo ra cơ chế phù hợp để thúc đẩy việc nghiên cứu, cũng như gắn kết chặt chẽ hơn giữa các trường ĐH và các viện nghiên cứu.
Tự chủ đại học- ai được, ai mất?
Trên thế giới, tự chủ ĐH là một nguyên lý hết sức cơ bản trong quản trị ĐH. Tự chủ ĐH bao gồm 6 lĩnh vực tự chủ: Tự chủ trong quản lý nhà trường; phân bổ nguồn lực; tuyển chọn nhân sự, tài chính và điều kiện làm việc; tuyển chọn sinh viên; chương trình đào tạo/ học thuật và giảng dạy; quyết định chuẩn học thuật, đánh giá và cấp văn bằng.
Các kết quả nghiên cứu về tự chủ ĐH trên thế giới cho thấy mức độ tự chủ ở 2 nhóm quốc gia, các nước phát triển và đang phát triển, là rất khác nhau, bởi mỗi quốc gia đều có thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Tuy nhiên, có nét tương đồng chung về tự chủ ĐH ở 3 khu vực chính trên thế giới.
Ở các quốc gia thuộc hệ thống Anh-Mỹ, các trường ĐH có truyền thống tự chủ ĐH cao nhất nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước xã hội và chính phủ. Ở các nước châu Âu lục địa, tự chủ thường nằm trong khuôn khổ qui định chi tiết của nhà nước. Tuy nhiên, các qui định có vẻ được nới lỏng và việc phân cấp được thực hiện. Ở các nước châu Á nói chung, nơi có nhiều ĐH mới được hình thành, nhà nước thường có mức độ kiểm soát cao như là những công cụ đóng góp vào tính kết nối quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
Mặc dù vậy, tự chủ ĐH không phải là một khái nhiệm tuyệt đối. Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động của trường ĐH thông qua các hành lang chính sách pháp lý hoặc chế tài tài chính.
Ở Việt Nam, vấn đề tự chủ ĐH chưa được hiểu và nghiên cứu một cách thấu đáo. Với quan niệm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, Bộ GD&ĐT trên thực tế đã làm thay công việc của các trường, từ bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo đơn vị, bổ nhiệm GS, phó GS, phê duyệt chương trình khung (chuẩn chương trình), phân bổ chỉ tiêu đào tạo, quyết định việc mở ngành mới và mức học phí (đối với trường công lập).
Trả lời báo chí[7], nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH Trần Thị Hà cho rằng Bộ đã giao nhiều quyền tự chủ cho các trường nhưng bản thân các trường chưa tận dụng hết những quyền hạn được giao. Ngược lại các trường, qua các cuộc khảo sát, cho rằng bản thân các trường phải "xin" thì mới được Bộ "cho" như mở ngành mới, phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh v.v...
Theo cơ chế chuyển đổi từ mô hình kiểm soát sang giám sát mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng, vai trò của Bộ GD&ĐT là xây dựng khuôn khổ chính sách, hành lang pháp lý cho các trường trong khi các trường cần được thực sự tự chủ theo qui định của pháp luật, nhưng phải đánh đổi bằng trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình. Chính vì chưa có hành lang pháp lý rõ ràng và sự thống nhất trong cách tiếp cận đã dẫn đến những mâu thuẫn vốn âm ỉ và rất cần được giải quyết thấu đáo.
Về vấn đề này, có lẽ chúng ta nên học hỏi ở hệ thống quản trị ĐH Trung Quốc, nơi các trường ĐH không tách rời khỏi nhà nước mà là một bộ phận không thể thiếu của dự án hiện đại hóa quốc gia của Trung Quốc (Su Yan Pan, 2009). Mặc dù vậy, sự cởi mở của nhà nước (trong chừng mực) đối với 1 số trường ĐH hàng đầu như ĐH Thanh Hoa hay ĐH Bắc Kinh đã mang đến những thay đổi hết sức đáng khâm phục. Kết quả là 2 ĐH này trong khoảng 5 năm trở lại đây luôn nằm trong nhóm 100 trường ĐH hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Tạp chí Times Higher Education[8].
ĐH Thanh Hoa - Trung Quốc
Hội đồng trường- nhân tố tạo nên sự thay đổi
Để đảm bảo tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường ĐH, vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là thành lập Hội đồng trường. Cả 2 điều lệ trường ĐH năm 2003 và năm 2010 đều đề cập đến việc này, nhưng tại sao cho đến nay chỉ có rất ít trường thành lập được hội đồng trường một cách đúng nghĩa là điều đáng suy gẫm.
1 câu hỏi đặt ra là tại sao phải có hội đồng trường trong các trường ĐH Việt Nam. Có thể thấy, trong lịch sử giáo dục ĐH Việt Nam, tất cả các hội đồng ở các trường ĐH, kể cả hội đồng khoa học đào tạo, đều có tính chất của những hội đồng tư vấn vì tất cả đều do hiệu trưởng quyết.
Theo GS Phạm Phụ (2005), hội đồng nhà trường bao gồm ban giám hiệu, các trưởng phó khoa, phòng ban, Đảng ủy, công đoàn... về bản chất vẫn là một một hội đồng hành chính (executive body) bên trong của nhà trường chứ chưa phải là một hội đồng quyền lực cao nhất của nhà trường và có rất nhiều thành viên độc lập bên ngoài nhà trường.
Về nguyên tắc, quyền lực cao nhất vẫn tập trung vào vai trò của hiệu trưởng. Ngoài ra, trong điều kiện chuyển đổi hết sức cơ bản của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay từ tinh hoa sang đại trà, nơi phần thu học phí đóng vai trò ngày càng quan trọng cũng như hương vị "thị trường" tăng cao, điều này cho thấy nhiều nội dung cần ra quyết định đã vượt ra ngoài khuôn khổ của trường ĐH truyền thống, trong đó có vấn đề tài chính trường ĐH.
Một cách tương ứng, việc ra quyết định ở các trường ĐH Việt Nam còn nặng theo mô hình truyền thống với quyền lực lớn nằm ở các tổ chức hành chính và các nhà quản lý hành chính. Xu hướng doanh nghiệp và kinh doanh ngày càng thâm nhập sâu vào trường ĐH. Ngoài ra, giáo dục ĐH Việt Nam đang ở trạng thái "cầu" vượt trội so với "cung" (chỉ khoảng 25% người học được vào các trường ĐH); trạng thái "độc quyền" vẫn còn tồn tại. Trong bối cảnh đó, cần phải giao quyền sử dụng tài sản và một phần quyền định đoạt lợi ích phát sinh cho một hội đồng trường như hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp (Phạm Phụ, 2005).
Song song đó, hiện Nhà nước đang chủ trương tăng quyền tự chủ cho các trường công lập và đã thí điểm cơ chế "tự chủ tài chính" ở một số trường (như Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM, Trường ĐH Thương mại). Điều này có nghĩa là giáo dục ĐH đang từng bước chuyển dần cơ chế "phân phối thẩm quyền" từ mô hình cấu trúc trên-xuống (top-down - top heavy) sang mô hình dưới-lên (bottom-up - bottom heavy). Nghĩa là thẩm quyền ra quyết định trong giáo dục ĐH sẽ được tập trung chủ yếu ở cấp trường. Trong bối cảnh đó, trường ĐH phải tự biết đổi mới, biết chấp nhận rủi ro, và phải đưa ra nhiều quyết định có tính tính đa mục tiêu. Chỉ có hội đồng trường mới có thể đảm đương được những trách nhiệm đó.
Mặc dù vậy, qua khảo sát, phần lớn hiệu trưởng các trường ĐH đều không muốn thành lập Hội đồng trường vì nhiều nguyên nhân, trong đó sâu xa nhất vẫn là cơ chế hoạt động của Hội đồng trường và Đảng ủy có nhiều điểm trùng lắp nhau. Một số ý kiến lo ngại rằng với cơ chế hiện nay, nếu làm không khéo thì Hội đồng  trường sẽ trở nên thừa vì hiệu trưởng không thể chịu sự chỉ đạo từ 2 cấp. Điều này đúng nhưng chưa đủ.
Điều đặc biệt quan trọng cần xem xét là Hội đồng trường chính là nhân tố tạo nên sự thay đổi chứ không phải là Ban Giám hiệu hay Đảng ủy (do tính khách quan, độc lập, số thành viên bên ngoài nhiều hơn bên trong) nên vai trò của Hội đồng trường trở nên cực kỳ quan trọng. Song song đó, chính việc thành lập Hội đồng trường đúng nghĩa sẽ giúp chuyển dần quyền lực từ bộ ngành chủ quản về các trường, đáp ứng yêu cầu xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản theo Nghị quyết 14/2005 của Chính phủ.
Kiến nghị
Từ những phân tích trên, tác giả xin kiến nghị một số giải pháp sau:
1. Xây dựng Luật Giáo dục ĐH một cách "chuyên nghiệp" hơn với sự tham gia của các chuyên gia về giáo dục ĐH trong và ngoài nước.
2. Phân tầng hệ thống giáo dục bậc cao:
Tầng 1 là chọn lựa một số trường ĐH trong số 15 trường trọng điểm quốc gia tập trung mạnh vào nghiên cứu. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế hiện nay của Việt Nam, có thể chỉ một số lượng ít (khoảng 5 trường) để các cơ sở giáo dục này được hỗ trợ lớn từ nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ chất xám cao cho quốc gia.
Tầng 2 sắp xếp lại các trường ĐH có định hướng giảng dạy và nghiên cứu, trong đó tập trung vào nhóm giảng dạy gắn liền với nghiên cứu (tỉ lệ giảng dạy/ nghiên cứu có thể là 7:3) để tạo ra những sản phẩm nghiên cứu đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao ở khu vực.
Tầng 3 là các trường ĐH, CĐ, CĐ cộng đồng có định hướng nghề nghiệp với trọng tâm chính là giảng dạy để phục vụ cho nhu cầu nghề nghiệp của địa phương. Đồng thời xem xét sát nhập một số cơ sở nhỏ lẻ để đáp ứng hiệu quả và qui mô kinh tế.
3. Trao quyền tự chủ thật sự cho một số trường có uy tín và tiềm lực mạnh trong khi kiểm soát chặt chẽ các trường chất lượng kém. Đề xuất này phù hợp với nội dung và ý kiến của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận tại Hội nghị lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo Luật Giáo dục Đại học ngày 19-20/4/2011 tại Hà Nội [9].
4. Thành lập Hội đồng trường theo đúng nghĩa trong tất cả các trường ĐH với số lượng thành viên bên ngoài nhiều hơn bên trong. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng trường, Đảng ủy và Ban Giám hiệu. Vai trò của bộ chủ quản sẽ dần dần mất đi khi quyền lực được chuyển giao cho Hội đồng trường.
5. Sắp xếp lại hệ thống các ĐH quốc gia và ĐH khu vực theo hướng xây dựng được cơ chế phối hợp để minh bạch quyền lợi và trách nhiệm của từng trường thành viên.
------
Tài liệu tham khảo
Anderson, D., & Johnson, R. (1998). University Autonomy in Twenty Countries: Canberra: Department of Employment, Education, Training and Youth Affairs. Commonwealth of Australia 1998.
Ashby, E., and Anderson. M. (1966). Universities: British, Indian, African. A Study of the Ecology of Higher Education. London: Weidenfield & Nicholson
Berdahl, R. (1990). Academic freedom, autonomy and accountability in British universities. Studies in Higher Education 15 (2): 169-80.
Dao, K. V., & Hayden, M. (2010). Reforming the Governance of Higher Education in Vietnam. In G. Harman, M. Hayden & T. N. Pham (Eds.), Reforming Higher Education in Vietnam: Challenges and Priorities. Dordrecht, The Netherlands: Springer
Mora, J. G. (2001). Governance and Management in the New University. Tertiary Education and Management, 7, 95-110.
Neave, G., & van Vught, F. (1994). Government and Higher Education in Developing Nations: A Conceptual Framework. In G. Neave & F. van Vught (Eds.), Government and Higher Education Relationship Across Three Continents: The Wind of Change (pp. 1-21): IAU, PERGAMON
Lam Quang Thiep (2010). Description and analysis of Vietnam's higher education. Report 1.
Pham Phu (2005). About a new face for higher education in Vietnam. Ho Chi Minh National University Press
Santiago, P., Tremblay, K., Basri, E. and Arnai, E. (2008). Tertiary Education for the Knowledge Society. Paris: OECD.
Su Yan Pan (2009). University Autonomy, the State, and Social Change in China. Hong Kong University Press

[1] Đến nay (năm 2011), số lượng các trường đại học cao đẳng lên đến trên 400
[2] http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2009/10/3ba151a0/
[3] Thông tư số 09/2009/TT-BGD&ĐT ngày 7/5/2009 về việc thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu thực hiện công khai cam kết của cơ sở giáo dục về chất lượng giáo dục và công khai về chất lượng giáo dục thực tế, về điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và về thu chi tài chính để người học, các thành viên của cơ sở giáo dục và xã hội tham gia giám sát và đánh giá cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.
[4] Báo cáo số 329/BC-UBTVQH12 ngày 26/5/2010
[5] Rất khó giải thích cho người nước ngoài hiểu được hệ thống giáo dục Việt Nam. Nếu như ĐHQG, ĐH vùng là University thì các trường thành viên cũng là University (hay member university), nghĩa là trường ĐH trong ĐH. Con dấu của 2 ĐHQG cũng mang hình quốc huy như Bộ GD-ĐT. Thủ tướng trực tiếp điều hành cả Bộ GD-ĐT và 2 ĐHQG. Có người cho rằng ở Việt Nam hiện nay có đến ba Bộ GD-ĐT chứ không phải là một. Nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s25-445979/mo-hinh-dh-vung-vua-doi-non-vua-che-o.htm
[6] Năm 2006, nguyên Bộ trưởng Bộ GD- ĐT Nguyễn Thiện Nhân trong buổi làm việc với ĐH Đà Nẵng có nói: "Cuối năm 2006, Bộ sẽ rà soát lại nhiều vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ để đi đến quyết định về mô hình chuẩn của ĐH vùng". Năm 2010, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đến làm việc với ĐH Huế và phát biểu rằng phải xây dựng được cơ chế phối hợp để quyền lợi và trách nhiệm của từng trường thành viên mất đi ít nhất; được liên kết, hỗ trợ nhiều nhất, để có sự phát triển và hiệu quả đào tạo cao hơn so với đứng ngoài ĐH vùng". Tuy nhiên, đến nay, mọi việc vẫn chưa có gì thay đổi. Nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s25-445979/mo-hinh-dh-vung-vua-doi-non-vua-che-o.htm ngày 23/01/2010.
[7] Theo báo Vietnamnet, ngày 15-10-2008: Đến nay Bộ GD-ĐT chỉ "ôm" nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thổi còi khi trường "lách luật". Nhưng thực tế các trường tự chủ đang lúng túng chưa biết mình phải làm gì và căn cứ vào đâu để làm(!)- phát biểu của Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT) Trần Thị Hà.
[8] http://www.timeshighereducation.co.uk/hybrid.asp?typeCode=144

WORLD UNIVERSITY RANKINGS 2007