Powered By Blogger

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Vì sao - Toán học
Học sinh tiểu học thậm trí một số em bé trước tuổi đi học đều hiểu ý nghĩa và cách dùng năm dấu + - x ÷ =. Thế nhưng lai lịch của chúng thì quả là rất ít người biết tới! vè 2 dấu +, - lúc đầu, người cổ Hy lạp và cổ Ấn Độ đều coi việc viết hai chữ số liền nhau là công hai số đó, ví dụ viết 3 ¼ có nghĩa là 3 cộng ¼ . Đến nay, qua cách viết biểu thức phân số còn có thể nhìn thấy dấu vết của phương án nàyHọc sinh tiểu học thậm trí một số em bé trước tuổi đi học đều hiểu ý nghĩa và cách dùng năm dấu + - x ÷ =. Thế nhưng lai lịch của chúng thì quả là rất ít người biết tới! Về 2 dấu +, - lúc đầu, người cổ Hy Lạp và cổ Ấn Độ đều coi việc viết hai chữ số liền nhau là công hai số đó, ví dụ viết 3 ¼ có nghĩa là 3 cộng ¼ . Đến nay, qua cách viết biểu thức phân số còn có thể nhìn thấy dấu vết của phương án này
Để biểu diễn phép trừ hai số họ sẽ viết hai số cách xa nhau một chút, ví dụ 6  1/5 có nghĩa là 6 trừ 1/5.

Sau đó có người dùng chữ la tinh P( là chữ đầu của Plus, có nghãi là cộng) hoạc P để ký hiệu phép cộng, dùng M ( mà chữ đầu của Minus có nghãi nghĩa là trừ) để ký hiệu phép trừ. Ví dụ 5 P 3 là 5 cộng 3, 7 M 5 là 7 trừ 5

Cuối thời Trung cổ, thương nghiệp ở châu Âu kha phát đạt. Một số nhà buôn thường vạch một dấu + lên thùng hàng để dánh dấu “trọng lượng hơi thừa“ và cạch dấu – để đánh dấu “trọng lượng hơi thiếu”, Thời kỳ phục hưng Leonarde da Vince (142 – 1519 ) bậc thầy về nghệ thuật người Italia, đã dùng ký hiệu +, - trong một số tác phẩm của ông. Năm 1489 sau công nguyên Johann Widman người Đức mới chính thức dùng hai ký hiệu đó cho 2 phép cộng và trừ trong tác phẩm của mình. Sau đó nhờ đóng góp tích cực của nhà toán học pháp viete hai dấu cộng trừ mới bắt đầu được phổ cập và cuối cùng đến năm 1930 mới được công nhận của mọi người.

Ở Trung Quốc nhà toán học Lý Thiên Lan nổi tiếng với “ hằng đẳng thức Lý Thiên Lan “ đã dùng “┴” để ký hiệu cộng và “T “ để ký hiệu trừ. Nhưng do thời đó trong xã hội thường dùng các que tính hay bàn tính để làm các phép tính cộng, trừ, nhân, chia, nên chưa tạo được ký hiệu toán chuyên dùng. Mãi về sau, người ta mới dần dần dùng chữ số Ấn độ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 0 (thường gọi là chữ số Ả rập nhưng kỳ thực là phát minh của người Ấn Độ) và dùng ký hiệu + và – .

Còn hai dấu x và ÷ mới được dùng hơn 300 năm nay. Nghe nói năm 1631, Oughtred William (1574 – 1660) người Anh đã dùng dấu “x“ ký hiệu phép nhân trong tác phẩm của mình, người sau theo đó mà dùng đến bây giờ.

Thời trung cổ, toán học Ả rập tương đối phát triển, có một nhà toán học lớn tên là Al Khẩizmi đã dùng “3/4” để biểu diễn 3 chia 4. nhiều người cho rằng ký hiệu phân số thông dụng hàng ngày này bắt người từ đó. Còn về việc sử dụng “+” có thể tìm về tác phẩm của một người anh tên là Pell John năm 1630 người ta đoán rằng có thể ông đã căn cứ vào ký hiệu chia “- “ và ký hiệu so sánh “:” của người Ả rập, kết hợp thành.

Hầu hết các ấn phẩm của các nước hiện nay đều dùng các dấu “+”, “- “ để biểu diễn cộng và trừ còng dấu “x” và “÷”thì kém hơn " =", " -" , nhiều ví dụ trong sách giáo khoa một số nước dùng dấu “.” thay cho “x”. Trong khi các ấn phẩm của Nga hoặc Đức rất ít khi thấy dấu "÷ "mà nói chung đều dùng dấu so sánh “:”. Thực ra có thể nói cách dùng dấu so sánh về cơ bản giống giấu "÷" không cần thêm 1 gạch ở giữa. Vì vậy ngày nay ký hiệu “÷” hầu như ngày càng ngày it dùng.
Vì sao - Toán học
Và tất nhiên tại sao một phút lại có 60 giây chứ không phải 100 giây? Để biết được câu trả lời, bạn phải quay lại 5000 trước với người Sumerian sinh sống ở Trung Đông. Từ thời kỳ này, người Sumerian đã phát minh ra chữ viết và toán học đơn giản. Họ cũng là những người đã phát minh ra hệ thống đo thời gian mà chúng ta vẫn sử dụng cho tới bây giờ.

Vì sao một giờ lại có 60 phút chứ không phải 100 phút?
Lý do cho câu hỏi trên nằm ở chỗ người Sumerian chỉ biết các dạng toán học đơn giản và các số nguyên. Ví dụ, họ biết lấy 10 chia 5 và 10 chia 2 nhưng họ không biết làm sao để lấy 10/3.

Do vậy, thay vì việc dựa trên hệ thập phân (là một hệ thống có lý vì tay chân chúng ta đều có 10 ngón), hệ thống số học của họ đã dựa trên số 60. 10 chỉ có thể chia hết cho 1, 2, 5, 10 thế nhưng 60 thì chia hết cho tận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 10, 12, 15, 20, 30 và 60. Ngay cả 100 cũng chỉ chia hết cho 1, 2, 4, 5, 10, 20, 25, 50, 100 nên 60 vẫn có ích hơn đối với người Sumerian. Từ đó tới nay, một giờ có 60 phút thay vì 100 phút.
Vì sao 1 không phải là số nguyên tố? PDF. In Email
Vì sao - Toán học
Toàn bộ số tự nhiên được chia làm ba loại: Loại 1 là các số nguyên tố (như 2,3,5,7,11,13,…), Loại 2 là các hợp số (4,6,8,9,10,…) . Số “1″ không phải là số nguyên tố, cũng không phải là hợp số nên nó là một loại riêng thứ 3.Toàn bộ số tự nhiên được chia làm ba loại: Loại 1 là các số nguyên tố (như 2,3,5,7,11,13,…), Loại 2 là các hợp số (4,6,8,9,10,…) . Số “1″ không phải là số nguyên tố, cũng không phải là hợp số nên nó là một loại riêng thứ 3.


Số nguyên tố là những số chỉ chia hết cho 1 và chính nó, còn hợp số có thể chia hết cho những số khác. Ví dụ, hợp số 6, ngoài chia hết cho 1 và 6 ra, nó còn chia hết cho 2 và 3. Đây là lý do chính để chia ra thành loại hợp số và số nguyên tố. Nhưng số 1 cũng chia hết cho 1 và chính nó, vì sao không gọi là số nguyên tố? Nếu 1 là số nguyên tố thì chỉ cần chia số tự nhiên thành 2 loại có tốt hơn không?

Để trả lời vấn đề này, trước tiên ta phải đặt vấn đề vì sao phải bàn đến số nguyên tố. Ví dụ số 3003 có thể chia hết cho số nguyên tố nào? Cũng có nghĩa là số nào là thừa số của 3003? Đương nhiên ta có thể xét tất cả các số từ 1 đến 3003, nhưng như vậy thì rất tốn công.
  
Chúng ta biết rằng, hợp số có thể là tích của nhiều số nguyên tố, tức là nhân nhiều số nguyên tố với nhau, nói cách khác, chính là phân tích thành thừa số nguyên tố. Đương nhiên, mỗi hợp số đều có thể phân tích thành thừa số nguyên tố và chỉ có một kết quả mà thôi (tất nhiên không kể đến thứ tự các thừa số).

Ví dụ : số 3003 có thể phân tích thành 3.7.11.13

Bây giờ ta quay trở lại vấn đề vì sao 1 không phải là số nguyên tố. Nếu 1 được coi là số nguyên tố thì khi phân tích một hợp số thành thừa số nguyên tố, đáp án sẽ không phải là duy nhất nữa!

Ví dụ : Phân tích số 3003 thành thừa số nguyên tố sẽ xảy ra các trường hợp sau:
3003 = 3.7.11.13
3003 = 1.3.7.11.13
3003 = 1.1.3.7.11.13

…………
Như vậy, khi phân tích có thể tuỳ ý thêm các thừa số 1 vào như vậy quả thực là không cần thiết chút nào, và kết quả phân tích lại không duy nhất, chỉ tăng thêm những phiền phức không cần thiết. Vì vậy 1 không được coi là số nguyên tố.

Khái niệm số nguyên tố là rất cơ bản nhưng nhiều người từ giáo viên đến học sinh vẫn hay nhầm: “Số nguyên tố là số tự nhiên chỉ chia hết cho 1 và chính nó” mà quên rằng: “Số nguyên tố phải lớn hơn 1″.
Vì sao - Toán học
Từ 1901 đến nay, cứ đến mùa thu là các giải thưởng Nobel được công bố. Đúng theo chúc thư của nhà phát minh Thụy Điển Alfred Nobel (1833-1896) thì có tất cả 5 giải thưởng cho các thành tựu trong vật lý, hóa học, y khoa hay sinh lý học, văn chương và hòa bình thế giới. Từ 1969 trở đi, Sveriges Riksban (Ngân hàng Đế chế Thụy Điển) còn góp quỹ thêm cho một giải thưởng Nobel về kinh tế học nữa. Nhưng từ trước đến nay không hề có một giải thưởng Nobel cho toán học!

Tại sao không có giải Nobel toán học?
Chuyện này đúng là không ít người đã thắc mắc. Mà cũng phải, chẳng phải danh ngôn Hy Lạp cổ đại đã bảo "Thượng đế làm toán" sao? Carl Friedrich Gauß cũng nói "Toán học là nữ hoàng của các môn khoa học". Thôi thì cứ cho là Gauß có hơi ...thiên vị đi, nhưng chắc chắn không ai thực sự quan niệm là toán học không phải là một ngành khoa học quan trọng đâu. Có thể là không ai hết ...ngoài Alfred Nobel ra!

Ngày nay nhiều người nghiên cứu tiểu sử Nobel cho đây chính là nguyên nhân tại sao ông ta không đoái hoài tới toán học trong chúc thư của mình. Ngay cả hội đồng giải thưởng Nobel từ lâu cũng coi đó là lý do chính thức giải thích chuyện này.

Xét về thân thế Alfred Nobel thì cũng có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này: Nobel tuy là một nhà sáng chế tài ba, nhất là về hóa học (ông có hơn 350 bằng sáng chế) nhưng chỉ đi học đến năm 16 tuổi và những năm cuối chỉ học tư ở nhà, chủ yếu là với nhà hóa học Nga Nikolai Zinin, người mà chắc đã dẫn ông vào ngành này. Nobel không theo học đại học ở đâu cả mà chỉ làm việc và nghiên cứu trong cơ xưởng và phòng thí nghiệm. Thời đó (nửa sau thế kỷ 19) người ta khám phá về hóa học rất nhiều, nhưng phần lớn đều dựa vào thực nghiệm mà chưa cần gì đến cơ sở khoa học. Xem lại các sáng chế của Nobel, người ta thấy ông rất am tường các loại nguyên liệu, hóa chất và nhất là có trực giác nhạy bén trong lúc nghiên cứu, nhưng về toán học thì chỉ áp dụng nhiều lắm là phép tam suất thôi. Có thể mà vì vậy ông đã không cảm thấy cần thiết có một giải thưởng cho toán học chăng?

Các giai thoại ly kỳ

Dĩ nhiên bây giờ khó ai có thể nói chắc được. Cho nên song song vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại ly kỳ giải thích chuyện này. Và các giai thoại này đều liên quan đến Gösta Mittag-Leffler (1846-1927), nhà toán học Thụy Điển nổi tiếng đồng thời với Nobel. Đầu tiên phải kể giai thoại mà nhà toán học Thụy Điển Torsten Carleman (1892-1949) đã nhắc đến khi phát biểu tưởng niệm Mittag-Leffler trong đám tang ông này: lúc sinh thời Alfred Nobel có bàn chuyện các giải thưởng với một nhà toán học quen biết đại khái như sau:

- "Nếu tôi lập một giải thưởng cho toán học thì liệu Mittag-Leffler có được chọn lãnh giải không?"

- "Tôi nghĩ rằng có thể lắm."

- "Vậy thì thôi, tôi sẽ không lập giải này đâu!"

Chuyện này tuy có ghi lại trong tiểu sử Carleman nhưng chắc chỉ do Carleman đặt ra để tôn vinh đồng nghiệp mình thôi. Vì tuy Mittag-Leffler có là một trong những nhà toán học lớn của Thụy Điển nhưng đương thời không sao sánh được Henri Poincaré(1854-1912) hay David Hilbert chẳng hạn. Mà chính Mittag-Leffler lúc còn sống cũng đã vận động tích cực cho Poincaré được Nobel vật lý (nhưng không thành công, ông ta còn vận động cho Marie Curie và Albert Einstein nữa, kết quả ra sao chúng ta đã biết). Và trong một giai thoại khác Mittag-Leffler cũng được nhắc đến là người đã quyến rũ người vợ trẻ của Alfred Nobel cho nên ông này vì hận mà cố tình loại bỏ toán học trong các giải thưởng của mình lập ra. Thật ra thì Alfred Nobel suốt đời sống độc thân. Theo tiểu sử của Nobel (Ragnar Sohlman, The Legacy of Alfred Nobel, London, 1983 chẳng hạn) thì quả là ông có một người bạn gái người Áo trẻ (nhỏ hơn ông đến 30 tuổi!) là Sophie Hess ở Wien. Cô này tuy được Nobel chu cấp (và sau này được để lại một phần gia tài) nhưng người ta không nghĩ cô là người yêu của Nobel, và lại càng không có gì chứng minh là Mittag-Leffler (hay một nhà toán học nào cùng thời) là tình địch cả.

Giai thoại được biết đến nhiều nhất thì có liên quan đến thêm một nhà toán học khác nữa. Đó là cô Sofja Kowalewska, nữ toán gia người Nga mà sau này nhờ Mittag-Leffler vận động đã trở thành nữ giáo sư toán đầu tiên ở Trung và Bắc Âu. Theo đó thì Nobel rất ái mộ Kowalewska nhưng - cũng vì Mittag-Leffler! - mà không lọt vào mắt xanh của cô. Từ đó mà ông đâm hận tất cả các nhà toán học và dĩ nhiên không khi nào chịu lập một giải thưởng cho khoa này. Theo nghiên cứu mới nhất về Mittag-Leffler (của Arild Stubhaug, Springer sắp xuất bản) thì quả thật cả ba có quen biết nhau, nhưng dựa theo thư từ giữa Mittag-Leffler và Nobel thì Nobel đã không sốt sắng gì mấy trong việc giúp đỡ tài chính cho Kowalewskaja, sau này còn từ chối hẳn nữa. Và cũng không có chứng cớ gì để nói rằng Mittag-Leffler có liên hệ gì khác với Kowalewskaja ngoài sự ngưỡng mộ tài năng của cô. Và Kowalewskaja cũng không phải nữ khoa học gia duy nhất được Mittag-Leffler ủng hộ: khi hội đồng Nobel định trao giải vật lý cho Pierre Curie (và Becquerel) năm 1903 thì chính Mittag-Leffler đã viết thư cho ông này, bảo phải ghi lại công lao của bà Marie Curie để ông cùng nộp lên. Trong khi đó Lars H. Hormander (một nhà toán học lớn của Thụy Điển, được huy chương Fields năm 1962 cùng John Milnor) thì cho rằng Mittag-Leffler và Nobel không thật sự quen biết nhau gì hết (Mathematical Intelligercer 7(3) 1985).

Giải thưởng Nobel và toán học

Cho dù vì sao đi nữa thì không có giải Nobel toán học vẫn là một thiệt thòi lớn cho toán học. Một giải thưởng như vậy không chỉ đem lại số tiền thưởng to tát có thể giúp đỡ nhiều cho các nhà toán học tài năng rảnh rang nghiên cứu mà còn đem lại cơ hội phổ biến toán học trong quần chúng nữa. Thực vậy, nhờ giải thưởng này mà báo chí, truyền thanh, truyền hình ít nhất cũng gây cho mọi người có dịp ít nhiều quan tâm đến khoa học, và nhất là toán học xưa nay vẫn không được ưa chuộng cho lắm nữa. Bạn nào có đọc qua quyển sách nhỏ của G.H. Hardy (A Mathematician's Apology - Lời xin lỗi của một nhà toán học, 1940) thì sẽ cảm thấy sự cay đắng của những người sống và làm việc với toán học. Những cái đẹp, những cái hay - đó là chưa nói đến những đóng góp cho các ngành khoa học hay kỹ thuật khác - người ngoài ít ai biết đến hay hiểu được, cho nên hầu như chẳng ai màng tới. Ngược lại, tự bảo mình là dốt toán lại có thể gây thiện cảm với người khác nữa!

Nhưng không có giải Nobel cho toán học hoàn toàn không có nghĩa là các nhà toán học không được giải Nobel! Năm 1998 giải Nobel hóa học trao cho John Pople (cùng với Walter Kohn) vốn là một nhà toán học nhưng nghiên cứu về hóa học lượng tử (bằng phương pháp toán học). Trước đó 1994 John Nash (mấy năm trước được Hollywood quay phim "A beautiful mind" với Russel Crowe đóng vai ông) cũng nhận giải Nobel kinh tế học do những thành tựu về lý thuyết trò chơi. Và mới tháng trước đây Robert J. Aumann, một nhà toán học gốc Do thái cũng nhận giải Nobel kinh tế học (cùng Thomas C. Schelling) về công trình nghiên cứu về sự xung đột và hợp tác (cũng nằm trong lý thuyết toán học về trò chơi). Đây là chỉ vài thí dụ minh họa thôi, chắc chưa đầy đủ lắm đâu.
Vì sao - Toán học
Từ 1901 đến nay, cứ đến mùa thu là các giải thưởng Nobel được công bố. Đúng theo chúc thư của nhà phát minh Thụy Điển Alfred Nobel (1833-1896) thì có tất cả 5 giải thưởng cho các thành tựu trong vật lý, hóa học, y khoa hay sinh lý học, văn chương và hòa bình thế giới. Từ 1969 trở đi, Sveriges Riksban (Ngân hàng Đế chế Thụy Điển) còn góp quỹ thêm cho một giải thưởng Nobel về kinh tế học nữa. Nhưng từ trước đến nay không hề có một giải thưởng Nobel cho toán học!

Tại sao không có giải Nobel toán học?
Chuyện này đúng là không ít người đã thắc mắc. Mà cũng phải, chẳng phải danh ngôn Hy Lạp cổ đại đã bảo "Thượng đế làm toán" sao? Carl Friedrich Gauß cũng nói "Toán học là nữ hoàng của các môn khoa học". Thôi thì cứ cho là Gauß có hơi ...thiên vị đi, nhưng chắc chắn không ai thực sự quan niệm là toán học không phải là một ngành khoa học quan trọng đâu. Có thể là không ai hết ...ngoài Alfred Nobel ra!

Ngày nay nhiều người nghiên cứu tiểu sử Nobel cho đây chính là nguyên nhân tại sao ông ta không đoái hoài tới toán học trong chúc thư của mình. Ngay cả hội đồng giải thưởng Nobel từ lâu cũng coi đó là lý do chính thức giải thích chuyện này.

Xét về thân thế Alfred Nobel thì cũng có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này: Nobel tuy là một nhà sáng chế tài ba, nhất là về hóa học (ông có hơn 350 bằng sáng chế) nhưng chỉ đi học đến năm 16 tuổi và những năm cuối chỉ học tư ở nhà, chủ yếu là với nhà hóa học Nga Nikolai Zinin, người mà chắc đã dẫn ông vào ngành này. Nobel không theo học đại học ở đâu cả mà chỉ làm việc và nghiên cứu trong cơ xưởng và phòng thí nghiệm. Thời đó (nửa sau thế kỷ 19) người ta khám phá về hóa học rất nhiều, nhưng phần lớn đều dựa vào thực nghiệm mà chưa cần gì đến cơ sở khoa học. Xem lại các sáng chế của Nobel, người ta thấy ông rất am tường các loại nguyên liệu, hóa chất và nhất là có trực giác nhạy bén trong lúc nghiên cứu, nhưng về toán học thì chỉ áp dụng nhiều lắm là phép tam suất thôi. Có thể mà vì vậy ông đã không cảm thấy cần thiết có một giải thưởng cho toán học chăng?

Các giai thoại ly kỳ

Dĩ nhiên bây giờ khó ai có thể nói chắc được. Cho nên song song vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại ly kỳ giải thích chuyện này. Và các giai thoại này đều liên quan đến Gösta Mittag-Leffler (1846-1927), nhà toán học Thụy Điển nổi tiếng đồng thời với Nobel. Đầu tiên phải kể giai thoại mà nhà toán học Thụy Điển Torsten Carleman (1892-1949) đã nhắc đến khi phát biểu tưởng niệm Mittag-Leffler trong đám tang ông này: lúc sinh thời Alfred Nobel có bàn chuyện các giải thưởng với một nhà toán học quen biết đại khái như sau:

- "Nếu tôi lập một giải thưởng cho toán học thì liệu Mittag-Leffler có được chọn lãnh giải không?"

- "Tôi nghĩ rằng có thể lắm."

- "Vậy thì thôi, tôi sẽ không lập giải này đâu!"

Chuyện này tuy có ghi lại trong tiểu sử Carleman nhưng chắc chỉ do Carleman đặt ra để tôn vinh đồng nghiệp mình thôi. Vì tuy Mittag-Leffler có là một trong những nhà toán học lớn của Thụy Điển nhưng đương thời không sao sánh được Henri Poincaré(1854-1912) hay David Hilbert chẳng hạn. Mà chính Mittag-Leffler lúc còn sống cũng đã vận động tích cực cho Poincaré được Nobel vật lý (nhưng không thành công, ông ta còn vận động cho Marie Curie và Albert Einstein nữa, kết quả ra sao chúng ta đã biết). Và trong một giai thoại khác Mittag-Leffler cũng được nhắc đến là người đã quyến rũ người vợ trẻ của Alfred Nobel cho nên ông này vì hận mà cố tình loại bỏ toán học trong các giải thưởng của mình lập ra. Thật ra thì Alfred Nobel suốt đời sống độc thân. Theo tiểu sử của Nobel (Ragnar Sohlman, The Legacy of Alfred Nobel, London, 1983 chẳng hạn) thì quả là ông có một người bạn gái người Áo trẻ (nhỏ hơn ông đến 30 tuổi!) là Sophie Hess ở Wien. Cô này tuy được Nobel chu cấp (và sau này được để lại một phần gia tài) nhưng người ta không nghĩ cô là người yêu của Nobel, và lại càng không có gì chứng minh là Mittag-Leffler (hay một nhà toán học nào cùng thời) là tình địch cả.

Giai thoại được biết đến nhiều nhất thì có liên quan đến thêm một nhà toán học khác nữa. Đó là cô Sofja Kowalewska, nữ toán gia người Nga mà sau này nhờ Mittag-Leffler vận động đã trở thành nữ giáo sư toán đầu tiên ở Trung và Bắc Âu. Theo đó thì Nobel rất ái mộ Kowalewska nhưng - cũng vì Mittag-Leffler! - mà không lọt vào mắt xanh của cô. Từ đó mà ông đâm hận tất cả các nhà toán học và dĩ nhiên không khi nào chịu lập một giải thưởng cho khoa này. Theo nghiên cứu mới nhất về Mittag-Leffler (của Arild Stubhaug, Springer sắp xuất bản) thì quả thật cả ba có quen biết nhau, nhưng dựa theo thư từ giữa Mittag-Leffler và Nobel thì Nobel đã không sốt sắng gì mấy trong việc giúp đỡ tài chính cho Kowalewskaja, sau này còn từ chối hẳn nữa. Và cũng không có chứng cớ gì để nói rằng Mittag-Leffler có liên hệ gì khác với Kowalewskaja ngoài sự ngưỡng mộ tài năng của cô. Và Kowalewskaja cũng không phải nữ khoa học gia duy nhất được Mittag-Leffler ủng hộ: khi hội đồng Nobel định trao giải vật lý cho Pierre Curie (và Becquerel) năm 1903 thì chính Mittag-Leffler đã viết thư cho ông này, bảo phải ghi lại công lao của bà Marie Curie để ông cùng nộp lên. Trong khi đó Lars H. Hormander (một nhà toán học lớn của Thụy Điển, được huy chương Fields năm 1962 cùng John Milnor) thì cho rằng Mittag-Leffler và Nobel không thật sự quen biết nhau gì hết (Mathematical Intelligercer 7(3) 1985).

Giải thưởng Nobel và toán học

Cho dù vì sao đi nữa thì không có giải Nobel toán học vẫn là một thiệt thòi lớn cho toán học. Một giải thưởng như vậy không chỉ đem lại số tiền thưởng to tát có thể giúp đỡ nhiều cho các nhà toán học tài năng rảnh rang nghiên cứu mà còn đem lại cơ hội phổ biến toán học trong quần chúng nữa. Thực vậy, nhờ giải thưởng này mà báo chí, truyền thanh, truyền hình ít nhất cũng gây cho mọi người có dịp ít nhiều quan tâm đến khoa học, và nhất là toán học xưa nay vẫn không được ưa chuộng cho lắm nữa. Bạn nào có đọc qua quyển sách nhỏ của G.H. Hardy (A Mathematician's Apology - Lời xin lỗi của một nhà toán học, 1940) thì sẽ cảm thấy sự cay đắng của những người sống và làm việc với toán học. Những cái đẹp, những cái hay - đó là chưa nói đến những đóng góp cho các ngành khoa học hay kỹ thuật khác - người ngoài ít ai biết đến hay hiểu được, cho nên hầu như chẳng ai màng tới. Ngược lại, tự bảo mình là dốt toán lại có thể gây thiện cảm với người khác nữa!

Nhưng không có giải Nobel cho toán học hoàn toàn không có nghĩa là các nhà toán học không được giải Nobel! Năm 1998 giải Nobel hóa học trao cho John Pople (cùng với Walter Kohn) vốn là một nhà toán học nhưng nghiên cứu về hóa học lượng tử (bằng phương pháp toán học). Trước đó 1994 John Nash (mấy năm trước được Hollywood quay phim "A beautiful mind" với Russel Crowe đóng vai ông) cũng nhận giải Nobel kinh tế học do những thành tựu về lý thuyết trò chơi. Và mới tháng trước đây Robert J. Aumann, một nhà toán học gốc Do thái cũng nhận giải Nobel kinh tế học (cùng Thomas C. Schelling) về công trình nghiên cứu về sự xung đột và hợp tác (cũng nằm trong lý thuyết toán học về trò chơi). Đây là chỉ vài thí dụ minh họa thôi, chắc chưa đầy đủ lắm đâu.
Vì sao - Toán học
Từ 1901 đến nay, cứ đến mùa thu là các giải thưởng Nobel được công bố. Đúng theo chúc thư của nhà phát minh Thụy Điển Alfred Nobel (1833-1896) thì có tất cả 5 giải thưởng cho các thành tựu trong vật lý, hóa học, y khoa hay sinh lý học, văn chương và hòa bình thế giới. Từ 1969 trở đi, Sveriges Riksban (Ngân hàng Đế chế Thụy Điển) còn góp quỹ thêm cho một giải thưởng Nobel về kinh tế học nữa. Nhưng từ trước đến nay không hề có một giải thưởng Nobel cho toán học!

Tại sao không có giải Nobel toán học?
Chuyện này đúng là không ít người đã thắc mắc. Mà cũng phải, chẳng phải danh ngôn Hy Lạp cổ đại đã bảo "Thượng đế làm toán" sao? Carl Friedrich Gauß cũng nói "Toán học là nữ hoàng của các môn khoa học". Thôi thì cứ cho là Gauß có hơi ...thiên vị đi, nhưng chắc chắn không ai thực sự quan niệm là toán học không phải là một ngành khoa học quan trọng đâu. Có thể là không ai hết ...ngoài Alfred Nobel ra!

Ngày nay nhiều người nghiên cứu tiểu sử Nobel cho đây chính là nguyên nhân tại sao ông ta không đoái hoài tới toán học trong chúc thư của mình. Ngay cả hội đồng giải thưởng Nobel từ lâu cũng coi đó là lý do chính thức giải thích chuyện này.

Xét về thân thế Alfred Nobel thì cũng có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này: Nobel tuy là một nhà sáng chế tài ba, nhất là về hóa học (ông có hơn 350 bằng sáng chế) nhưng chỉ đi học đến năm 16 tuổi và những năm cuối chỉ học tư ở nhà, chủ yếu là với nhà hóa học Nga Nikolai Zinin, người mà chắc đã dẫn ông vào ngành này. Nobel không theo học đại học ở đâu cả mà chỉ làm việc và nghiên cứu trong cơ xưởng và phòng thí nghiệm. Thời đó (nửa sau thế kỷ 19) người ta khám phá về hóa học rất nhiều, nhưng phần lớn đều dựa vào thực nghiệm mà chưa cần gì đến cơ sở khoa học. Xem lại các sáng chế của Nobel, người ta thấy ông rất am tường các loại nguyên liệu, hóa chất và nhất là có trực giác nhạy bén trong lúc nghiên cứu, nhưng về toán học thì chỉ áp dụng nhiều lắm là phép tam suất thôi. Có thể mà vì vậy ông đã không cảm thấy cần thiết có một giải thưởng cho toán học chăng?

Các giai thoại ly kỳ

Dĩ nhiên bây giờ khó ai có thể nói chắc được. Cho nên song song vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại ly kỳ giải thích chuyện này. Và các giai thoại này đều liên quan đến Gösta Mittag-Leffler (1846-1927), nhà toán học Thụy Điển nổi tiếng đồng thời với Nobel. Đầu tiên phải kể giai thoại mà nhà toán học Thụy Điển Torsten Carleman (1892-1949) đã nhắc đến khi phát biểu tưởng niệm Mittag-Leffler trong đám tang ông này: lúc sinh thời Alfred Nobel có bàn chuyện các giải thưởng với một nhà toán học quen biết đại khái như sau:

- "Nếu tôi lập một giải thưởng cho toán học thì liệu Mittag-Leffler có được chọn lãnh giải không?"

- "Tôi nghĩ rằng có thể lắm."

- "Vậy thì thôi, tôi sẽ không lập giải này đâu!"

Chuyện này tuy có ghi lại trong tiểu sử Carleman nhưng chắc chỉ do Carleman đặt ra để tôn vinh đồng nghiệp mình thôi. Vì tuy Mittag-Leffler có là một trong những nhà toán học lớn của Thụy Điển nhưng đương thời không sao sánh được Henri Poincaré(1854-1912) hay David Hilbert chẳng hạn. Mà chính Mittag-Leffler lúc còn sống cũng đã vận động tích cực cho Poincaré được Nobel vật lý (nhưng không thành công, ông ta còn vận động cho Marie Curie và Albert Einstein nữa, kết quả ra sao chúng ta đã biết). Và trong một giai thoại khác Mittag-Leffler cũng được nhắc đến là người đã quyến rũ người vợ trẻ của Alfred Nobel cho nên ông này vì hận mà cố tình loại bỏ toán học trong các giải thưởng của mình lập ra. Thật ra thì Alfred Nobel suốt đời sống độc thân. Theo tiểu sử của Nobel (Ragnar Sohlman, The Legacy of Alfred Nobel, London, 1983 chẳng hạn) thì quả là ông có một người bạn gái người Áo trẻ (nhỏ hơn ông đến 30 tuổi!) là Sophie Hess ở Wien. Cô này tuy được Nobel chu cấp (và sau này được để lại một phần gia tài) nhưng người ta không nghĩ cô là người yêu của Nobel, và lại càng không có gì chứng minh là Mittag-Leffler (hay một nhà toán học nào cùng thời) là tình địch cả.

Giai thoại được biết đến nhiều nhất thì có liên quan đến thêm một nhà toán học khác nữa. Đó là cô Sofja Kowalewska, nữ toán gia người Nga mà sau này nhờ Mittag-Leffler vận động đã trở thành nữ giáo sư toán đầu tiên ở Trung và Bắc Âu. Theo đó thì Nobel rất ái mộ Kowalewska nhưng - cũng vì Mittag-Leffler! - mà không lọt vào mắt xanh của cô. Từ đó mà ông đâm hận tất cả các nhà toán học và dĩ nhiên không khi nào chịu lập một giải thưởng cho khoa này. Theo nghiên cứu mới nhất về Mittag-Leffler (của Arild Stubhaug, Springer sắp xuất bản) thì quả thật cả ba có quen biết nhau, nhưng dựa theo thư từ giữa Mittag-Leffler và Nobel thì Nobel đã không sốt sắng gì mấy trong việc giúp đỡ tài chính cho Kowalewskaja, sau này còn từ chối hẳn nữa. Và cũng không có chứng cớ gì để nói rằng Mittag-Leffler có liên hệ gì khác với Kowalewskaja ngoài sự ngưỡng mộ tài năng của cô. Và Kowalewskaja cũng không phải nữ khoa học gia duy nhất được Mittag-Leffler ủng hộ: khi hội đồng Nobel định trao giải vật lý cho Pierre Curie (và Becquerel) năm 1903 thì chính Mittag-Leffler đã viết thư cho ông này, bảo phải ghi lại công lao của bà Marie Curie để ông cùng nộp lên. Trong khi đó Lars H. Hormander (một nhà toán học lớn của Thụy Điển, được huy chương Fields năm 1962 cùng John Milnor) thì cho rằng Mittag-Leffler và Nobel không thật sự quen biết nhau gì hết (Mathematical Intelligercer 7(3) 1985).

Giải thưởng Nobel và toán học

Cho dù vì sao đi nữa thì không có giải Nobel toán học vẫn là một thiệt thòi lớn cho toán học. Một giải thưởng như vậy không chỉ đem lại số tiền thưởng to tát có thể giúp đỡ nhiều cho các nhà toán học tài năng rảnh rang nghiên cứu mà còn đem lại cơ hội phổ biến toán học trong quần chúng nữa. Thực vậy, nhờ giải thưởng này mà báo chí, truyền thanh, truyền hình ít nhất cũng gây cho mọi người có dịp ít nhiều quan tâm đến khoa học, và nhất là toán học xưa nay vẫn không được ưa chuộng cho lắm nữa. Bạn nào có đọc qua quyển sách nhỏ của G.H. Hardy (A Mathematician's Apology - Lời xin lỗi của một nhà toán học, 1940) thì sẽ cảm thấy sự cay đắng của những người sống và làm việc với toán học. Những cái đẹp, những cái hay - đó là chưa nói đến những đóng góp cho các ngành khoa học hay kỹ thuật khác - người ngoài ít ai biết đến hay hiểu được, cho nên hầu như chẳng ai màng tới. Ngược lại, tự bảo mình là dốt toán lại có thể gây thiện cảm với người khác nữa!

Nhưng không có giải Nobel cho toán học hoàn toàn không có nghĩa là các nhà toán học không được giải Nobel! Năm 1998 giải Nobel hóa học trao cho John Pople (cùng với Walter Kohn) vốn là một nhà toán học nhưng nghiên cứu về hóa học lượng tử (bằng phương pháp toán học). Trước đó 1994 John Nash (mấy năm trước được Hollywood quay phim "A beautiful mind" với Russel Crowe đóng vai ông) cũng nhận giải Nobel kinh tế học do những thành tựu về lý thuyết trò chơi. Và mới tháng trước đây Robert J. Aumann, một nhà toán học gốc Do thái cũng nhận giải Nobel kinh tế học (cùng Thomas C. Schelling) về công trình nghiên cứu về sự xung đột và hợp tác (cũng nằm trong lý thuyết toán học về trò chơi). Đây là chỉ vài thí dụ minh họa thôi, chắc chưa đầy đủ lắm đâu.
Vì sao - Toán học
Từ 1901 đến nay, cứ đến mùa thu là các giải thưởng Nobel được công bố. Đúng theo chúc thư của nhà phát minh Thụy Điển Alfred Nobel (1833-1896) thì có tất cả 5 giải thưởng cho các thành tựu trong vật lý, hóa học, y khoa hay sinh lý học, văn chương và hòa bình thế giới. Từ 1969 trở đi, Sveriges Riksban (Ngân hàng Đế chế Thụy Điển) còn góp quỹ thêm cho một giải thưởng Nobel về kinh tế học nữa. Nhưng từ trước đến nay không hề có một giải thưởng Nobel cho toán học!

Tại sao không có giải Nobel toán học?
Chuyện này đúng là không ít người đã thắc mắc. Mà cũng phải, chẳng phải danh ngôn Hy Lạp cổ đại đã bảo "Thượng đế làm toán" sao? Carl Friedrich Gauß cũng nói "Toán học là nữ hoàng của các môn khoa học". Thôi thì cứ cho là Gauß có hơi ...thiên vị đi, nhưng chắc chắn không ai thực sự quan niệm là toán học không phải là một ngành khoa học quan trọng đâu. Có thể là không ai hết ...ngoài Alfred Nobel ra!

Ngày nay nhiều người nghiên cứu tiểu sử Nobel cho đây chính là nguyên nhân tại sao ông ta không đoái hoài tới toán học trong chúc thư của mình. Ngay cả hội đồng giải thưởng Nobel từ lâu cũng coi đó là lý do chính thức giải thích chuyện này.

Xét về thân thế Alfred Nobel thì cũng có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này: Nobel tuy là một nhà sáng chế tài ba, nhất là về hóa học (ông có hơn 350 bằng sáng chế) nhưng chỉ đi học đến năm 16 tuổi và những năm cuối chỉ học tư ở nhà, chủ yếu là với nhà hóa học Nga Nikolai Zinin, người mà chắc đã dẫn ông vào ngành này. Nobel không theo học đại học ở đâu cả mà chỉ làm việc và nghiên cứu trong cơ xưởng và phòng thí nghiệm. Thời đó (nửa sau thế kỷ 19) người ta khám phá về hóa học rất nhiều, nhưng phần lớn đều dựa vào thực nghiệm mà chưa cần gì đến cơ sở khoa học. Xem lại các sáng chế của Nobel, người ta thấy ông rất am tường các loại nguyên liệu, hóa chất và nhất là có trực giác nhạy bén trong lúc nghiên cứu, nhưng về toán học thì chỉ áp dụng nhiều lắm là phép tam suất thôi. Có thể mà vì vậy ông đã không cảm thấy cần thiết có một giải thưởng cho toán học chăng?

Các giai thoại ly kỳ

Dĩ nhiên bây giờ khó ai có thể nói chắc được. Cho nên song song vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại ly kỳ giải thích chuyện này. Và các giai thoại này đều liên quan đến Gösta Mittag-Leffler (1846-1927), nhà toán học Thụy Điển nổi tiếng đồng thời với Nobel. Đầu tiên phải kể giai thoại mà nhà toán học Thụy Điển Torsten Carleman (1892-1949) đã nhắc đến khi phát biểu tưởng niệm Mittag-Leffler trong đám tang ông này: lúc sinh thời Alfred Nobel có bàn chuyện các giải thưởng với một nhà toán học quen biết đại khái như sau:

- "Nếu tôi lập một giải thưởng cho toán học thì liệu Mittag-Leffler có được chọn lãnh giải không?"

- "Tôi nghĩ rằng có thể lắm."

- "Vậy thì thôi, tôi sẽ không lập giải này đâu!"

Chuyện này tuy có ghi lại trong tiểu sử Carleman nhưng chắc chỉ do Carleman đặt ra để tôn vinh đồng nghiệp mình thôi. Vì tuy Mittag-Leffler có là một trong những nhà toán học lớn của Thụy Điển nhưng đương thời không sao sánh được Henri Poincaré(1854-1912) hay David Hilbert chẳng hạn. Mà chính Mittag-Leffler lúc còn sống cũng đã vận động tích cực cho Poincaré được Nobel vật lý (nhưng không thành công, ông ta còn vận động cho Marie Curie và Albert Einstein nữa, kết quả ra sao chúng ta đã biết). Và trong một giai thoại khác Mittag-Leffler cũng được nhắc đến là người đã quyến rũ người vợ trẻ của Alfred Nobel cho nên ông này vì hận mà cố tình loại bỏ toán học trong các giải thưởng của mình lập ra. Thật ra thì Alfred Nobel suốt đời sống độc thân. Theo tiểu sử của Nobel (Ragnar Sohlman, The Legacy of Alfred Nobel, London, 1983 chẳng hạn) thì quả là ông có một người bạn gái người Áo trẻ (nhỏ hơn ông đến 30 tuổi!) là Sophie Hess ở Wien. Cô này tuy được Nobel chu cấp (và sau này được để lại một phần gia tài) nhưng người ta không nghĩ cô là người yêu của Nobel, và lại càng không có gì chứng minh là Mittag-Leffler (hay một nhà toán học nào cùng thời) là tình địch cả.

Giai thoại được biết đến nhiều nhất thì có liên quan đến thêm một nhà toán học khác nữa. Đó là cô Sofja Kowalewska, nữ toán gia người Nga mà sau này nhờ Mittag-Leffler vận động đã trở thành nữ giáo sư toán đầu tiên ở Trung và Bắc Âu. Theo đó thì Nobel rất ái mộ Kowalewska nhưng - cũng vì Mittag-Leffler! - mà không lọt vào mắt xanh của cô. Từ đó mà ông đâm hận tất cả các nhà toán học và dĩ nhiên không khi nào chịu lập một giải thưởng cho khoa này. Theo nghiên cứu mới nhất về Mittag-Leffler (của Arild Stubhaug, Springer sắp xuất bản) thì quả thật cả ba có quen biết nhau, nhưng dựa theo thư từ giữa Mittag-Leffler và Nobel thì Nobel đã không sốt sắng gì mấy trong việc giúp đỡ tài chính cho Kowalewskaja, sau này còn từ chối hẳn nữa. Và cũng không có chứng cớ gì để nói rằng Mittag-Leffler có liên hệ gì khác với Kowalewskaja ngoài sự ngưỡng mộ tài năng của cô. Và Kowalewskaja cũng không phải nữ khoa học gia duy nhất được Mittag-Leffler ủng hộ: khi hội đồng Nobel định trao giải vật lý cho Pierre Curie (và Becquerel) năm 1903 thì chính Mittag-Leffler đã viết thư cho ông này, bảo phải ghi lại công lao của bà Marie Curie để ông cùng nộp lên. Trong khi đó Lars H. Hormander (một nhà toán học lớn của Thụy Điển, được huy chương Fields năm 1962 cùng John Milnor) thì cho rằng Mittag-Leffler và Nobel không thật sự quen biết nhau gì hết (Mathematical Intelligercer 7(3) 1985).

Giải thưởng Nobel và toán học

Cho dù vì sao đi nữa thì không có giải Nobel toán học vẫn là một thiệt thòi lớn cho toán học. Một giải thưởng như vậy không chỉ đem lại số tiền thưởng to tát có thể giúp đỡ nhiều cho các nhà toán học tài năng rảnh rang nghiên cứu mà còn đem lại cơ hội phổ biến toán học trong quần chúng nữa. Thực vậy, nhờ giải thưởng này mà báo chí, truyền thanh, truyền hình ít nhất cũng gây cho mọi người có dịp ít nhiều quan tâm đến khoa học, và nhất là toán học xưa nay vẫn không được ưa chuộng cho lắm nữa. Bạn nào có đọc qua quyển sách nhỏ của G.H. Hardy (A Mathematician's Apology - Lời xin lỗi của một nhà toán học, 1940) thì sẽ cảm thấy sự cay đắng của những người sống và làm việc với toán học. Những cái đẹp, những cái hay - đó là chưa nói đến những đóng góp cho các ngành khoa học hay kỹ thuật khác - người ngoài ít ai biết đến hay hiểu được, cho nên hầu như chẳng ai màng tới. Ngược lại, tự bảo mình là dốt toán lại có thể gây thiện cảm với người khác nữa!

Nhưng không có giải Nobel cho toán học hoàn toàn không có nghĩa là các nhà toán học không được giải Nobel! Năm 1998 giải Nobel hóa học trao cho John Pople (cùng với Walter Kohn) vốn là một nhà toán học nhưng nghiên cứu về hóa học lượng tử (bằng phương pháp toán học). Trước đó 1994 John Nash (mấy năm trước được Hollywood quay phim "A beautiful mind" với Russel Crowe đóng vai ông) cũng nhận giải Nobel kinh tế học do những thành tựu về lý thuyết trò chơi. Và mới tháng trước đây Robert J. Aumann, một nhà toán học gốc Do thái cũng nhận giải Nobel kinh tế học (cùng Thomas C. Schelling) về công trình nghiên cứu về sự xung đột và hợp tác (cũng nằm trong lý thuyết toán học về trò chơi). Đây là chỉ vài thí dụ minh họa thôi, chắc chưa đầy đủ lắm đâu.
Vì sao - Toán học
Từ 1901 đến nay, cứ đến mùa thu là các giải thưởng Nobel được công bố. Đúng theo chúc thư của nhà phát minh Thụy Điển Alfred Nobel (1833-1896) thì có tất cả 5 giải thưởng cho các thành tựu trong vật lý, hóa học, y khoa hay sinh lý học, văn chương và hòa bình thế giới. Từ 1969 trở đi, Sveriges Riksban (Ngân hàng Đế chế Thụy Điển) còn góp quỹ thêm cho một giải thưởng Nobel về kinh tế học nữa. Nhưng từ trước đến nay không hề có một giải thưởng Nobel cho toán học!

Tại sao không có giải Nobel toán học?
Chuyện này đúng là không ít người đã thắc mắc. Mà cũng phải, chẳng phải danh ngôn Hy Lạp cổ đại đã bảo "Thượng đế làm toán" sao? Carl Friedrich Gauß cũng nói "Toán học là nữ hoàng của các môn khoa học". Thôi thì cứ cho là Gauß có hơi ...thiên vị đi, nhưng chắc chắn không ai thực sự quan niệm là toán học không phải là một ngành khoa học quan trọng đâu. Có thể là không ai hết ...ngoài Alfred Nobel ra!

Ngày nay nhiều người nghiên cứu tiểu sử Nobel cho đây chính là nguyên nhân tại sao ông ta không đoái hoài tới toán học trong chúc thư của mình. Ngay cả hội đồng giải thưởng Nobel từ lâu cũng coi đó là lý do chính thức giải thích chuyện này.

Xét về thân thế Alfred Nobel thì cũng có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này: Nobel tuy là một nhà sáng chế tài ba, nhất là về hóa học (ông có hơn 350 bằng sáng chế) nhưng chỉ đi học đến năm 16 tuổi và những năm cuối chỉ học tư ở nhà, chủ yếu là với nhà hóa học Nga Nikolai Zinin, người mà chắc đã dẫn ông vào ngành này. Nobel không theo học đại học ở đâu cả mà chỉ làm việc và nghiên cứu trong cơ xưởng và phòng thí nghiệm. Thời đó (nửa sau thế kỷ 19) người ta khám phá về hóa học rất nhiều, nhưng phần lớn đều dựa vào thực nghiệm mà chưa cần gì đến cơ sở khoa học. Xem lại các sáng chế của Nobel, người ta thấy ông rất am tường các loại nguyên liệu, hóa chất và nhất là có trực giác nhạy bén trong lúc nghiên cứu, nhưng về toán học thì chỉ áp dụng nhiều lắm là phép tam suất thôi. Có thể mà vì vậy ông đã không cảm thấy cần thiết có một giải thưởng cho toán học chăng?

Các giai thoại ly kỳ

Dĩ nhiên bây giờ khó ai có thể nói chắc được. Cho nên song song vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại ly kỳ giải thích chuyện này. Và các giai thoại này đều liên quan đến Gösta Mittag-Leffler (1846-1927), nhà toán học Thụy Điển nổi tiếng đồng thời với Nobel. Đầu tiên phải kể giai thoại mà nhà toán học Thụy Điển Torsten Carleman (1892-1949) đã nhắc đến khi phát biểu tưởng niệm Mittag-Leffler trong đám tang ông này: lúc sinh thời Alfred Nobel có bàn chuyện các giải thưởng với một nhà toán học quen biết đại khái như sau:

- "Nếu tôi lập một giải thưởng cho toán học thì liệu Mittag-Leffler có được chọn lãnh giải không?"

- "Tôi nghĩ rằng có thể lắm."

- "Vậy thì thôi, tôi sẽ không lập giải này đâu!"

Chuyện này tuy có ghi lại trong tiểu sử Carleman nhưng chắc chỉ do Carleman đặt ra để tôn vinh đồng nghiệp mình thôi. Vì tuy Mittag-Leffler có là một trong những nhà toán học lớn của Thụy Điển nhưng đương thời không sao sánh được Henri Poincaré(1854-1912) hay David Hilbert chẳng hạn. Mà chính Mittag-Leffler lúc còn sống cũng đã vận động tích cực cho Poincaré được Nobel vật lý (nhưng không thành công, ông ta còn vận động cho Marie Curie và Albert Einstein nữa, kết quả ra sao chúng ta đã biết). Và trong một giai thoại khác Mittag-Leffler cũng được nhắc đến là người đã quyến rũ người vợ trẻ của Alfred Nobel cho nên ông này vì hận mà cố tình loại bỏ toán học trong các giải thưởng của mình lập ra. Thật ra thì Alfred Nobel suốt đời sống độc thân. Theo tiểu sử của Nobel (Ragnar Sohlman, The Legacy of Alfred Nobel, London, 1983 chẳng hạn) thì quả là ông có một người bạn gái người Áo trẻ (nhỏ hơn ông đến 30 tuổi!) là Sophie Hess ở Wien. Cô này tuy được Nobel chu cấp (và sau này được để lại một phần gia tài) nhưng người ta không nghĩ cô là người yêu của Nobel, và lại càng không có gì chứng minh là Mittag-Leffler (hay một nhà toán học nào cùng thời) là tình địch cả.

Giai thoại được biết đến nhiều nhất thì có liên quan đến thêm một nhà toán học khác nữa. Đó là cô Sofja Kowalewska, nữ toán gia người Nga mà sau này nhờ Mittag-Leffler vận động đã trở thành nữ giáo sư toán đầu tiên ở Trung và Bắc Âu. Theo đó thì Nobel rất ái mộ Kowalewska nhưng - cũng vì Mittag-Leffler! - mà không lọt vào mắt xanh của cô. Từ đó mà ông đâm hận tất cả các nhà toán học và dĩ nhiên không khi nào chịu lập một giải thưởng cho khoa này. Theo nghiên cứu mới nhất về Mittag-Leffler (của Arild Stubhaug, Springer sắp xuất bản) thì quả thật cả ba có quen biết nhau, nhưng dựa theo thư từ giữa Mittag-Leffler và Nobel thì Nobel đã không sốt sắng gì mấy trong việc giúp đỡ tài chính cho Kowalewskaja, sau này còn từ chối hẳn nữa. Và cũng không có chứng cớ gì để nói rằng Mittag-Leffler có liên hệ gì khác với Kowalewskaja ngoài sự ngưỡng mộ tài năng của cô. Và Kowalewskaja cũng không phải nữ khoa học gia duy nhất được Mittag-Leffler ủng hộ: khi hội đồng Nobel định trao giải vật lý cho Pierre Curie (và Becquerel) năm 1903 thì chính Mittag-Leffler đã viết thư cho ông này, bảo phải ghi lại công lao của bà Marie Curie để ông cùng nộp lên. Trong khi đó Lars H. Hormander (một nhà toán học lớn của Thụy Điển, được huy chương Fields năm 1962 cùng John Milnor) thì cho rằng Mittag-Leffler và Nobel không thật sự quen biết nhau gì hết (Mathematical Intelligercer 7(3) 1985).

Giải thưởng Nobel và toán học

Cho dù vì sao đi nữa thì không có giải Nobel toán học vẫn là một thiệt thòi lớn cho toán học. Một giải thưởng như vậy không chỉ đem lại số tiền thưởng to tát có thể giúp đỡ nhiều cho các nhà toán học tài năng rảnh rang nghiên cứu mà còn đem lại cơ hội phổ biến toán học trong quần chúng nữa. Thực vậy, nhờ giải thưởng này mà báo chí, truyền thanh, truyền hình ít nhất cũng gây cho mọi người có dịp ít nhiều quan tâm đến khoa học, và nhất là toán học xưa nay vẫn không được ưa chuộng cho lắm nữa. Bạn nào có đọc qua quyển sách nhỏ của G.H. Hardy (A Mathematician's Apology - Lời xin lỗi của một nhà toán học, 1940) thì sẽ cảm thấy sự cay đắng của những người sống và làm việc với toán học. Những cái đẹp, những cái hay - đó là chưa nói đến những đóng góp cho các ngành khoa học hay kỹ thuật khác - người ngoài ít ai biết đến hay hiểu được, cho nên hầu như chẳng ai màng tới. Ngược lại, tự bảo mình là dốt toán lại có thể gây thiện cảm với người khác nữa!

Nhưng không có giải Nobel cho toán học hoàn toàn không có nghĩa là các nhà toán học không được giải Nobel! Năm 1998 giải Nobel hóa học trao cho John Pople (cùng với Walter Kohn) vốn là một nhà toán học nhưng nghiên cứu về hóa học lượng tử (bằng phương pháp toán học). Trước đó 1994 John Nash (mấy năm trước được Hollywood quay phim "A beautiful mind" với Russel Crowe đóng vai ông) cũng nhận giải Nobel kinh tế học do những thành tựu về lý thuyết trò chơi. Và mới tháng trước đây Robert J. Aumann, một nhà toán học gốc Do thái cũng nhận giải Nobel kinh tế học (cùng Thomas C. Schelling) về công trình nghiên cứu về sự xung đột và hợp tác (cũng nằm trong lý thuyết toán học về trò chơi). Đây là chỉ vài thí dụ minh họa thôi, chắc chưa đầy đủ lắm đâu.

Chàng sĩ quan và vụ 'hiếp dâm' kỳ quặc

Chàng sĩ quan trẻ tình cờ quen cô gái trong quán nhậu và nhanh chóng có cuộc hẹn tại khách sạn. Thấy nàng im lặng, chàng “đáp lời”. Nhưng khi đang “cao trào” bỗng nhiên, cô gái la hét, tố chàng hiếp dâm.
TIN BÀI KHÁC

Màn kịch hoàn hảo
Đây là vụ án vừa xảy ra tại thành phố Hà Tĩnh. Chàng sĩ quan trẻ công tác tại một đơn vị quân đội ở Nghệ An, vụ án xảy ra tại khách sạn TA trên địa bàn phường Thạch Linh thành phố Hà Tĩnh. Vì lý do tế nhị, chúng tôi không đưa tên thật và cơ quan công tác của “thủ phạm” bị tố cáo trong vụ hiếp dâm kỳ quặc này. Gọi là vụ hiếp dâm kỳ quặc, bởi diễn biến chưa có trong tiền lệ. Chàng sĩ quan không ngờ, nhưng ngay cả cán bộ thụ lý hỗ sơ cũng “choáng” khi biết rằng, tất cả chỉ là màn kịch kiếm tiền của cô gái.
Tấn Lợi công tác tại một đơn vị quân đội ở Nghệ An. Hôm đó, Lợi vào thành phố Hà Tĩnh thăm bạn, tới trưa cả nhóm cùng kéo nhau ra nhà hàng. Bạn bè lâu ngày gặp nhau, tất thảy chuyện trò rôm rả. Sẽ không có gì để nói nếu như bàn bên cạnh không xuất hiện một cô gái lạ mặt. Lợi và nhóm bạn không tài nào tập trung vào “chuyên môn”, nhất là khi cô gái thỉnh thoảng lại lướt cái nhìn sắc lẹm…
Ở bàn bên, cô gái ngồi một mình, gọi một cốc bia, một đĩa “mồi”. Không quá lộ liễu nhưng chiếc áo sẻ cổ để lộ nước da và gò bồng đảo nóng bỏng khiến quán nhậu dường như phát sốt. Ai cũng muốn tiếp cận, nhưng sự mạnh dạn chỉ có một. Đó chính là Lợi – và sự mạnh dạn cùng những bước chân dứt khoát ấy đẩy chàng sĩ quan rơi vào bẫy tình chưa từng có trong hồ sơ vụ án.
Lợi đứng dậy cầm cốc bia rót đầy tiến sang bàn bên…
- Chắc người đẹp có chuyện buồn, nếu không phiền anh xin được chạm cốc với em, hy vọng ít nhất cũng nhận được một nụ cười nếu chẳng phải em thì cũng là anh vơi đi sầu muộn – Lợi mở đầu bằng cái cách văn hoa như vốn có.
- Anh cũng sầu muộn? Mà sao anh biết em buồn? – nàng từ tốn đáp lại, kèm theo một nụ cười khá gượng gạo.
- Anh không phải thầy bói, nhưng nhiều lúc giữa những người chưa quen biết lại có “sóng điện từ”. Hôm nay anh không nhầm. Với người xinh như em, càng không – chàng sĩ quan được thể lả lướt.
Màn chào hỏi xem ra đạt chuẩn. Cô gái giới thiệu tên là Lê Trinh, gia đình ở phường Bắc Hà, TP Hà Tĩnh. Cô nói rằng, hôm nay gia đình “có chuyện”, ức chế với hành xử của chồng nên phải tìm ra quán gọi bia uống một mình giải sầu. Lê Trinh không giấu giếm rỉ tai vào người mới quen “số em xui nên mới gặp phải ông chồng như vậy, giá mà…”.
Biết “cá” đã dính mồi, nhưng để tránh nhóm bạn đang ngồi đàm tiếu. Lợi nhanh chóng ghi số điện thoại của người mà theo anh “mười chàng gặp, mười một chàng… chết”, rồi rút!
Lợi vừa quay sang bàn nhậu, lập tức cô gái cũng đứng dậy cáo bận, rời khỏi quán. Trước khi tạm biệt, cô gái xưng tên trinh nữ không quên ném lại cú đánh mắt sắc lẹm và những bước chân đưa đẩy vòng ái tình rạo rực…
Chừng 45 phút sau, khi cuộc nhậu đã ngà ngà, bất ngờ máy điện thoại Lợi báo tin nhắn. Số máy từ người đẹp khiến chàng sĩ quan dẫu đã vắt qua bao mối tình cũng khiến tâm thất trái, tâm thất phải đập loạn xạ. “Anh đã nhậu xong chưa, thật sự em buồn. Em muốn tâm sự với anh ngay bây giờ…”.
Với những gì đã cảm nhận qua cuộc trò chuyện, Lợi nhận định đây không phải là gái làng chơi như lẽ thường. Nếu một cô gái hành nghề chỉ vì mục đích thương mại, anh sẵn sàng ném bỏ những cuộc điện thoại và tin nhắn. Nhưng kinh nghiệm tình trường, kinh nghiệm xã hội, đủ cho anh đưa ra kết luận: Lê Trinh thực sự có chuyện và đã “kết” mình. Lời nhắn lại, hẹn gặp ở khách sạn TA, phường Thạch Linh, thành phố Hà Tĩnh.
Lợi đẩy cửa bước vào, thấy Trinh đã nằm lặng lẽ trên giường kê sát tường. Anh cẩn thận đóng cửa, uống ngụm nước xả bia và tiến lại phía người đẹp. Trinh nằm vắt tay lên đầu, rất tư lự, chiếc chăn bông mỏng mảnh kéo ngang người. Lợi mạnh dạn lật nhẹ mảnh chăn. Chiếc áo quá nhỏ không đủ che phần thân người gợi cảm của nàng. Em… Dường như đây không phải là lúc văn hoa như trước đó khi cả hai chào hỏi ở nhà hàng. Lợi thực hiện hành động như nhiều người đàn ông trong hoàn cảnh đó, làm theo tình cảm, theo bản năng. “Đừng anh, em không đồng ý” – câu nói của nàng trong hoàn cảnh đó, không mấy ai để ý. Giống như đẩy cửa thì gió phải vào. Lợi cũng vậy. Nhưng đó chính là một trong những câu nói quan trọng để buộc Lợi thành thủ phạm vụ hiếp dâm không thể tin được.
Chiếc máy điện thoại đầu giường đã chuyển sang chế độ ghi âm để làm căn cứ buộc tội chàng sĩ quan trẻ, mà mãi sau này khi tới cơ quan điều tra, chàng mới hay biết. Trinh dường như chỉ yên lặng khi Lợi “tấn công”. Nhưng khi cuộc “đánh chiếm” sắp hạ màn, bấy giờ hành động của Trinh mới rõ ràng. Trinh giẫy nảy, phản đối, yêu cầu Lợi phải chấm dứt ngay lập tức. Nghĩ rằng nàng giận nên có lời lẽ không hay, Lợi tiếp tục dỗ. Nhưng động tác của Trinh càng quyết liệt. Cô la hét, và bất ngờ kêu cứu.
Đến câu này thì Lợi giật mình thực sự. Nhưng khi anh chưa kịp phản ứng lại với người tình thì cửa phòng bật mở. Hai người đàn ông lạ mặt tiến thẳng vào phòng. “Dính bẫy tống tình rồi” – một phản xạ có kinh nghiệm của người đã có thâm niên tình trường như Lợi. Anh lùi lại góc giường, theo thế thủ của một sĩ quan có võ, đoán định hai gã thanh niên lạ mặt sẽ làm gì để chấp nhận ăn thua.
Nhưng việc lùi lại của Lợi cũng bằng thừa. Bởi hoạt cảnh khác hẳn với cách mà ai ở thể như Lợi cũng nghĩ đến: dàn cảnh tống tiền. Một trong hai thanh niên kịp giật bộ quần áo của Lợi, không để hai người kịp choàng vào. Nhưng họ không có bất kỳ hành động bạo lực nào. Người còn lại rút điện thoại và số họ gọi đến không phải nhóm giang hồ như Lợi tưởng. Người này điện báo tới Công an phường, nói ngắn gọn: Báo cáo các anh Công an, chúng tôi đang bắt quả tang một vụ hiếp dâm ở khách sạn TA, cần có sự có mặt của các anh gấp.
Hiện trường vẫn được giữ nguyên cho tới khi Công an phường có mặt. Biên bản lấy lời khai nhanh chóng được thực hiện. Sáng ngày hôm sau, kèm theo đó là một lá đơn ghi “Đơn tố cáo xâm hại tình dục, đề nghị khởi tố hình sự”. Người đứng đơn tố cáo, không ai khác là Lê Trinh. Vụ việc được Công an phường chuyển lên Công an thành phố Hà Tĩnh thụ lý theo thẩm quyền.
Ngồi trước cơ quan điều tra, Lợi vẫn không thể hiểu nổi, vì sao mình lại rơi vào hoàn cảnh này. Chẳng lẽ một hành động như vậy lại phạm tội hiếp dâm? Thế nhưng, những gì Lê Trinh trình bày và các căn cứ thu thập được, trong đó có cả chiếc điện thoại ghi âm, Lợi như cứng lưỡi.
Mũi tên trúng nhiều đích
Đây là vụ án chiếm đoạt tiền bằng cách tạo dựng màn hiếp dâm hiếm có. Sau quá trình điều tra, CQĐT chứng mình, do túng tiền nên Trinh nghĩ cách “kiếm ăn”. Vốn có thân hình bốc lửa, qua tìm hiểu, cô biết rằng những sĩ quan trong lực lượng vũ trang thường phải chịu kỷ luật nghiêm ngặt. Chọn “con mồi” ở diện đối tượng này sẽ đánh một mũi tên trúng nhiều đích. Khi quan sát thấy nhóm thanh niên là sĩ quan quân đội đang ăn nhậu, cô tạo cớ thất tình ngồi uống bia một mình bàn bên cạnh để câu nhử.
Cô cũng được những người khác tư vấn rằng, tội hiếp dâm bị khởi tố khi nạn nhân có yêu câu, và khi giao cấu trái ý muốn. Bởi thế, khi Lợi đến khách sạn, cô ăn mặc khêu gợi nhưng tỏ thái độ yên lặng. Khi Lợi “khởi động”, cô lặng yên. Nhưng khi “tấn công” sắp kết thúc, cô bắt đầu phản ứng mạnh và cầu cứu. Sự xuất hiện của hai thanh niên là trong kịch bản. Một màn kịch tống tiền như thường thấy nếu hai thanh niên kia xông vào đe dọa, khống chế Lợi và yêu cầu “nộp phạt”.
Nhưng họ làm ngược lại: không đe dọa gì cả, bình tĩnh gọi.. Công an phường. Hoạt cảnh này quá mới và quá hiểm! Tại cơ quan điều tra, ngoài đơn tố cáo, cô còn trình ra cả đoạn ghi âm có lời “kêu cứu”. Những điều đó cho thấy việc Lợi giao cấu với cô là ngoài ý muốn của nạn nhân. Chiếu theo điều này, cùng lá đơn tố cáo của Trinh và biên bản làm việc tại “hiện trường”, Lợi hoàn toàn có thể bị lĩnh án về tội hiếp dâm. Tiếp đó, Trinh nới với Lợi rằng, số phận của anh giờ trong tay em. Nếu khởi tố, em bị thiệt hại về danh dự, gia đình, người thân dị nghị vì mình bị “hiếp dâm”. Nhưng cái Lợi phải nhận lớn hơn rất nhiều: ra khỏi ngành, và đi tù…
Trinh đòi bồi thường 40 triệu để rút đơn và “tha tù” cho Lợi. Một màn kịch không thể hoàn hảo hơn với Trinh khi mục đích chiếm đoạt tiền đạt được mà mình lại ở thế thắng, trong vai “nạn nhân vụ hiếp dâm” còn Lợi không thể bi kịch hơn khi phải cắn răng trả 40 triệu đồng mà vẫn phải “mang ơn” người đã lừa mình.
Diễn viên cũng chịu thua
Trung úy Trần Quang Đạt , công an thành phố Hà Tĩnh – người theo dõi vụ án cho rằng, thủ đoạn chiếm đoạt tài sản như vụ án trên là chưa từng có. Thông thường, những kẻ tạo dựng kịch bản cho đối tượng quan hệ tình dục, sau đó bố trí người bắt quả tang, khống chế bắt nộp phạt. Những vụ án này khi làm rõ, đối tượng nữ và đồng phạm sẽ bị truy tố tội “cưỡng đoạt tài sản”. Thế nhưng vụ án này ngược lại, đối tượng đạt được mục đích chiếm đoạt tiền mà không thể khởi tố Trinh về tội danh này.
Thạc sĩ luật Đăng Minh thì thừa nhận, Lê Trinh rõ ràng là một cao thủ về luật, hoặc là một kịch bản mà người tư vấn, soạn giả của kịch bản đó phải quá rõ về luật, nhất là trong cấu thành tội hiếp dâm. Còn vai diễn của Lê Trinh thì diễn viên cũng chịu thua.
(Theo Cảnh sát toàn cầu)

chỉ cưới mà không đăng kí kết hôn

Hai vợ chồng tôi lấy nhau chỉ tổ chức đám cưới thông báo với hai họ. Vì có những khổ tâm riêng mà chúng tôi không đăng ký kết hôn tại phường. Xin hỏi, khi đăng ký khai sinh cho con, tôi có thể làm thủ tục gì để có thể điền được cả tên cha, mẹ vào giấy khai sinh cho con?
Tôi phải làm các thủ tục gì, xin hướng dẫn.
Trả lời:
Câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời như sau:

Vợ chồng  bạn hoàn toàn có thể đăng ký khai sinh cho cháu mà có thể điền được cả tên của cha, mẹ vào giấy khai sinh.
Thủ tục tiến hành làm giấy khai sinh theo trình tự bình thường
Ảnh minh họa
Hồ sơ bao gồm:

+  Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp. Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

+ Giấy đăng ký kết hôn của cha hoặc mẹ của trẻ (nếu có)

+ Sổ hộ khẩu gia đình (hoặc giấy đăng ký tạm trú có thời hạn hoặc giấy xác nhận cư trú của cơ quan Công an) của người mẹ

+ Chứng minh thư nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ của người đi đăng ký khai sinh

Hồ sơ nộp tại ủy ban nhân dân xã (phường) nơi cha hoặc mẹ của trẻ cư trú. Hai vợ chồng bạn không phải đóng lệ phí. Nếu có đủ cơ sở xác định thì thời gian giải quyết ngay trong ngày.
Về băn khoăn khi hai bạn chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn thì giấy khai sinh có được ghi đầy đủ cả tên cha và mẹ hay không? Theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006 ) hướng dẫn đăng ký khai sinh đã tạo thuận lợi cho việc làm đăng ký khai sinh cho trẻ trong trường hợp cha mẹ chưa tiến hành đăng ký kết hôn. Chỉ cần cán bộ Tư pháp biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn
Nếu cán bộ tư pháp gây khó dễ việc ghi tên bố cho trẻ trong giấy khai sinh thì các bạn cứ coi đây là trường hợp sinh con ngoài giá thú và căn cứ điều 15, nghị định 158/NĐ-CP: “Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”. Tức là UBND xã (phường) có thẩm quyền vẫn ghi tên cha vào giấy khai sinh của cháu khi có người nhận là cha của trẻ.
Hai vợ chồng bạn không (hay chưa) thực hiện việc đăng ký kết hôn nhưng trước đó cả hai bạn đều chưa từng kết hôn với ai hoặc có kết hôn nhưng đã ly hôn thì việc hai bạn về chung sống với nhau cũng không bị pháp luật cấm. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi lâu dài cho cả hai người, các bạn nên chọn thời điểm thích hợp để tổ chức đăng ký kết hôn. Chúc hai vợ chồng bạn thuận lợi trong việc đăng ký khai sinh cho con.
Tư vấn bởi Luật sư Bùi Tuấn Anh – Văn phòng luật sư Bùi Đình Ứng – Đoàn luật sư TP.Hà Nội

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

1 vi du ve TBLT cho GD noi chung

TTCT - LTS: Bài viết “Lối sống emo” (TTCT số ra ngày 20-2) nhận được nhiều phản hồi, chia sẻ của các độc giả trẻ. TTCT giới thiệu một số ý kiến.
Tôi đang cải thiện bản thân
Gia đình tôi rất phức tạp, chịu nhiều áp lực tiền bạc... Lúc đầu tôi không nói chuyện với ai, cáu gắt với mọi người xung quanh, rất nóng tính. Tôi đánh nhau liên miên, bị gia đình la mắng, càng ngày tôi càng chìm sâu. Tôi không thèm nói chuyện với bất cứ người nào, đi học về là đóng cửa phòng hoặc ra bờ sông ngồi một mình.
Đến khi tôi lên cấp III thì có một thay đổi lớn trong đời. Tôi bắt đầu tụ tập đi chơi với các bạn xấu, học lực giảm sút. Gia đình không động viên mà lại chê trách, so sánh với các bạn khác khiến tôi mặc cảm, càng ghét ngôi nhà mình hơn. Ngay lúc đó trường phát động phong trào đôi bạn cùng tiến, rất may mắn tôi được xếp chung nhóm với một bạn gái xinh xắn, học giỏi nhất trường.
Sau nhiều lần học nhóm, tôi bắt đầu cảm mến bạn gái này. Từ đó tôi quyết tâm thay đổi cuộc sống, chăm chỉ trở lại, kiềm chế nóng giận bằng cách nghĩ tới bạn ấy. Kết quả học tập của tôi bắt đầu tiến triển, tôi hòa đồng hơn, tham gia thể thao tập thể nhiều hơn, bạn bè ngày càng mến tôi hơn. Tôi thật hạnh phúc. Ở nhà tôi cũng bắt đầu phụ giúp gia đình và hiểu công việc của ba mẹ cực khổ thế nào.
Thế rồi tôi lại rơi vào trạng thái hụt hẫng khi cô bạn mà tôi thầm yêu từ chối lúc tôi thổ lộ tình cảm. Đau khổ, tuyệt vọng nhưng tôi chưa bỏ cuộc. Đến năm lớp 11 tôi lại nói tiếng yêu cô ấy, nhưng tiếp tục bị từ chối. Tôi như phát điên khi cô ấy tránh mặt tôi. Một hôm chơi đá bóng trong sân trường tôi bị chơi xấu nên cãi cọ, xô xát diễn ra. Không hiểu sao tôi không đánh trả, chỉ đứng cho bị đánh rồi lẳng lặng bỏ đi. Lát sau công an đến mời chúng tôi về trụ sở xử lý. Công an bảo sẽ đình chỉ anh bạn đánh tôi một năm (lúc đó bạn ấy học lớp 12), tôi lại xin công an tha cho bạn ấy, thế là huề...
Đến cuối năm lớp 11, tôi có phần lấy lại được bình tĩnh khi cô bạn gái nói sẽ cho tôi cơ hội nếu tôi vào đại học. Từ đó tôi học như điên... Đến gần cuối năm lớp 12, tình cảm của chúng tôi có vẻ tiến triển đôi chút nhưng lại xuất hiện thêm chướng ngại mới: tôi đăng ký thi ĐH Cần Thơ, cô ấy chọn ĐH Y dược TP.HCM. Trong thời gian ôn thi, chúng tôi không liên lạc, dần dần tình cảm ít ỏi của cô ấy với tôi thật sự nhạt phai.
Sau khi chúng tôi đậu ĐH, tôi ngỏ lời lần nữa nhưng lần này cô ấy lại từ chối. Tôi chỉ biết khóc. Suy nghĩ và suy nghĩ, tôi thấy không nên tiếp tục vì mỗi người đều có sự lựa chọn riêng. Tôi tôn trọng cô ấy. Giờ đây tôi đã vui vẻ trở lại, tôi quen được nhiều bạn mới, môi trường mới đang chờ tôi khám phá. Tôi đang cải thiện bản thân.
Tôi mong bạn cũng vậy. Những thứ đã qua chỉ là quá khứ, hãy nghĩ về hiện tại và tương lai.
taraki_otenlo


Tôi là một thanh niên 20 tuổi. Từ nhỏ tôi đã trải qua những vất vả gian truân của con nhà nghèo, thiếu thốn đủ thứ trong cuộc sống và học tập. Khi nhận ra công việc của nhà nông không mang lại cho mình tương lai tốt, tôi rời quê lên Sài Gòn.
Lên thành phố, mọi thứ với tôi đều lạ lẫm. Tôi mang nỗi mặc cảm lớn về thân phận và hoàn cảnh, nhưng không vì thế tôi tự ti và xa lánh mọi người. Tôi hòa nhập cuộc sống nơi đô thị rất nhanh và có nhiều mối quan hệ tốt. Tôi tự làm thêm để có tiền sinh sống và theo học tại Trường đại học Kiến trúc. Trong mắt bạn bè, tôi là người nghị lực và bản lĩnh. Dẫu còn nhiều vất vả và thiếu thốn, nhưng cuộc sống của tôi vẫn êm đềm trôi chảy nếu không có người con gái đó...
T. bằng tuổi tôi và chúng tôi gặp nhau trong một buổi sinh hoạt về hội họa. T. xinh xắn, dễ mến, là tiểu thư sống trong một gia đình giàu có và gia giáo. Chúng tôi quen nhau và sau một thời gian trở nên thân thiết, yêu thương nhau. Vì tình yêu, tôi bỏ qua mặc cảm, cố gắng vươn lên, quyết tâm là người thật giỏi để xứng đáng với T..
Rồi đột nhiên T. xa dần tôi sau ba năm yêu nhau, tình cảm nhạt nhòa đến bất ngờ. Mọi liên lạc bị cắt đứt. Sau đó tôi mới biết T. đã yêu một người khác, thành đạt và giàu có. Không thể diễn tả nỗi đau của tôi khi đó. Tôi mất phương hướng, mất niềm tin vào cuộc sống, vào con người. Tôi không tin ai, tôi nghi ngờ tất cả vì niềm tin lớn nhất của tôi đã tan vỡ.
Mọi thứ trong tôi rối bời, tôi bỏ bê học hành, ít nói và chẳng muốn gặp ai. Lang thang trên mạng, tôi học cách giải sầu bằng cách rạch tay, rạch chân mình và đúng là cảm thấy... đỡ buồn. Suốt thời gian dài, tôi trốn mình trong căn phòng trọ tối tăm, ẩm ướt với đống đồ đạc bề bộn xung quanh. Tôi uống rượu một mình, thường xuyên bỏ ăn. Có những lúc nỗi cô đơn và uất hận đã nhen nhóm trong tôi ý định tự tử... Lúc đó chính tôi còn không nhận ra tôi. Tôi muốn gào thét đòi nợ cuộc đời trả lại cho tôi - tôi của ngày trước - một tôi riêng biệt và không lẫn vào ai, một tôi nghị lực và mạnh mẽ.
Một thời gian sau, tôi nhận được tin ba mất. Ba tôi bị chìm xuồng trong một lần ra sông kéo cá. Cái chết của ba khiến tôi như người bừng tỉnh sau cơn mê. Tôi tự dằn vặt bản thân “Mày đã làm gì thế này? Mày có xứng đáng với những hi sinh của ba mẹ vất vả lo cho mày ăn học nơi phồn hoa, đô thị? Mày có nhớ đến giọt mồ hôi của mẹ giữa trưa nắng đi cắt lúa thuê để kiếm đồng tiền ít ỏi cho mày không? Mày có xứng đáng với vong linh của ba nơi chín suối không?...“. Tôi bật khóc, chưa bao giờ tôi khóc nhiều như vậy.
Tôi lột xác! Tôi lao vào việc học, việc làm. Tôi tham gia nhiều hoạt động từ thiện, gặp gỡ và quen thêm nhiều người. Khi làm nhiều việc, bạn sẽ không còn thời gian để nghĩ ngợi lung tung. Tôi nhận ra cuộc sống này còn đẹp lắm.
Qua câu chuyện này, tôi muốn nhắn nhủ với các bạn cùng trang lứa rằng khi chúng ta nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống, nhận ra trách nhiệm của bản thân với gia đình, với cuộc sống và với chính cuộc đời mình, bạn sẽ không rơi vào lạc lõng, không cô đơn và không tự phá hoại đời mình. Hãy trân trọng kiếp người cha mẹ đã cho ta!